Home / VĂN MẪU THPT / Văn mẫu lớp 10 / Phân Tích Tư Tưởng Nhân Nghĩa Trong Bình Ngô Đại Cáo Của Nguyễn Trãi

Phân Tích Tư Tưởng Nhân Nghĩa Trong Bình Ngô Đại Cáo Của Nguyễn Trãi

Đề bài: Phân Tích Tư Tưởng Nhân Nghĩa Trong Bình Ngô Đại Cáo Của Nguyễn Trãi

BÀI LÀM

Nguyễn Trãi là một đại thi hào dân tộc Việt Nam. Ông thật xứng danh là một nhân vật lịch sử vĩ đại cho hàng ngàn thế hê sau học hỏi và noi theo. Người anh hùng ấy vừa gây dựng nên bao công lao to lớn cho đất nước vừa để lại cho nền văn học nước nhà một khối lượng lớn các tác phẩm vô cùng giá trị với tư tưởng nhân văn, nhân nghĩa sâu sắc. Trong đó, không thể không kể đến tác phẩm “Bình ngô đại cáo”.

>> Xem thêm: Soạn Bài Bình Ngô Đại Cáo – Phần 1: Tác Giả Nguyễn Trãi

Đây được coi như bản Tuyên ngôn độc lập thứ hai của đất nước. Mà ở đó ông đã khẳng định độc lập chủ quyền dân tộc, đã đưa ra những chân lý hết sức xác thực và đanh thép, rằng kẻ ác kẻ hung tàn dù có mạnh đến mấy cũng không bao giờ giành chiến thắng, rằng ranh giới bờ cõi đất Việt đã chia rõ ràng, không có kẻ nào có thể xâm chiếm được. Cùng với đó là tư tưởng nhân nghĩa – một thứ tư tưởng không thể tách rời với vận mệnh của đất nước, của nhân dân.

“Nhân” là người, “nghĩa” là nghĩa tình, nghĩa lý. Nhân nghĩa là sự đối nhân xử thế giữa người với người sao cho có ý nghĩa, có tình có lý. Trong “Đại cáo bình ngô” Nguyễn Trãi đã thể hiện tư tưởng nhân nghĩa rất rõ ràng và chí lý. Ngay trong những câu thơ mở đầu, ông đã viết:

“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân

Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”.

Trong hai câu thơ này, Nguyễn Trãi đã khẳng định luôn việc nhân nghĩa cốt ở yên dân. Tức nhân dân làm chủ, người lãnh đạo phải luôn luôn đặt lợi ích của dân lên làm đầu, chớ có vì lợi ích riêng mà hãm hại dân lành. Ông cũng nhắc đến tấm gương của Thang, của Vũ đã vì dân mà đánh kẻ có tội là Kiệt, là Trụ. Họ đã thẳng thắn, không bao che cho nhau. Như thế mới là nhân nghĩa. Như vậy, việc nhân nghĩa không hề là một khái niệm trừu tượng, mà ở đây, Nguyễn Trãi đã giải thích rất rõ ràng nhân nghĩa chính là những việc làm cụ thể, xứng đáng, là những việc mà người lãnh đạo, người cầm quyền làm cho nhân dân. Nguyễn Trãi còn đưa ra nhiều chứng cứ xác thực:

“Như nước Đại Việt ta từ trước

Vốn xưng nền văn hiến đã lâu

Núi sông bờ cõi đã chia

Phong tục Bắc Nam cũng khác

Từ Triệu, Đinh, Lý Trần bao đời gây nền độc lập

Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyễn mỗi bên xứng đế một phương

Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau

Song hào kiệt đời nào cũng có”.

Nguyễn Trãi đã liệt kê ra một loạt những nhân chứng của lịch sử nước nhà cho sự nhân nghĩa. Chính vì nhân nghĩa nên đất nước dẫu có lúc Bắc Nam hai miền hai phong tục, hay có khi mạnh khi yếu, song đời nào cũng vẫn có những vị anh hùng hào kiệt đáng ngợi ca.

Nhân nghĩa không chỉ là cách ứng xử riêng tư giữa một hai người với nhau, mà hơn thế, nhân nghĩa còn là một tư tưởng lớn của dân tộc. Cũng chính vì lòng nhân nghĩa, nên Nguyễn Trãi đã thấu hiểu hơn ai hết những nỗi đau tột cùng mà bọn giặc Minh đã gây ra cho nhân dân. Bằng nỗi căm hờn khinh ghét, Nguyễn Trãi đã thẳng tay tố cáo tội ác của bọn chúng:

“Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn

Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ”.

Tội ác này chúng sẽ không bao giờ gột rửa được. Câu thơ bất động mà như tanh mùi máu bởi những từ ngữ gợi hình gợi cảm cùng giọng điệu ai oán xót xa mà Nguyễn Trãi đã khéo léo sử dụng. Bọn chúng còn đưa ra đủ các thứ thuế bắt nhân dân phải nộp hàng tháng, hàng năm.

“Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc ngán thay cá mập, thuồng luồng

Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu, nước độc”.

Chúng bắt dân ta phải phục tùng, phải lao động khổ sai ở những nơi nguy hiểm, tính mạng có thể mất bất cứ lúc nào. Chúng càn quét, vơ vét hết sản vật, chim trả, hươu đen… Tội ác của chúng khiến ngòi bút văn chương của ông phải ghê rợn:

“Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,

Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi

Lẽ nào trời đất dung tha

Ai bảo thần nhân chịu được?”

Tội ác tày trời của giặc Minh không thể kết xiết được. Thù này nhất định phải trả.

Như vậy, một lần nữa, lòng nhân nghĩa được Nguyễn Trãi chỉ ra bằng hành động cụ thể: nhìn nhận chính xác kẻ thù, vùng dậy đấu tranh bằng lòng quả cảm, quyết liệt, dù có phải đổ máu cũng không tiếc chi. Từ tinh thần ấy, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn được nổi lên. Dù ban đầu, phía quân ta thiếu thốn đủ đường: thiếu nhân lực, thiếu lương thực, thiếu vũ khí… Nhưng, đổi lại, ta lại có những mặt lợi thế:

“Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới

Tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông, chén rượu ngọt ngào.

Thế trận xuất kỳ, lấy yếu chống mạnh;

Dùng quân mai phục, lấy ít địch nhiều

Trọn hay:

Đem đại nghĩa để thắng hung tàn

Lấy chí nhân để thay cường bạo”.

Loading...

Lòng nhân nghĩa đang được Nguyễn Trãi thể hiện bằng những hành động, những chiến lược quân sự cụ thể. Một lực lượng non yếu, thiếu thốn không cân sức khó mà chiến thắng được, nhưng với thế trận xuất kỳ, với các mai phục thông minh, nhất định ta sẽ giành thắng lợi. Biết mình, biết ta, trăm trận trăm thắng. Có lẽ Nguyễn Trãi cũng thấu hiểu điều đó nên đã ngày đêm tìm hiểu, nghiên cứu để tìm ra thế trận chống lại đội quân hung ác của giặc. Và đúng như những gì mong muốn, quân ta đã giành thắng lợi vẻ vang. Lũ giặc Minh gian ác đã phải trả giá với những gì mình đã gây ra cho dân Việt:

“Trần Trí, Sơn Thọ nghe hơi mà mất vía,

Lí An, Phương Chính nín thở cầu thoát thân…”

Bằng sự quyết tâm và ý chí chiến đấu quyết liệt theo đúng tư tưởng nhân nghĩa mà Nguyễn Trãi đã đưa ra ngay từ đầu, nhân dân ta đã toàn thắng một cách rất hào hùng, oanh liệt. Ông đã liệt kê rất nhiều kỳ tích vang dội của nhân dân:

“Đánh một trận sạch không kình ngạc

Đánh hai trận, tan tác chim muông”

Từ lòng nhân nghĩa, thương dân cùng với sự tương trợ nỗ lực hết mình của tất cả mọi người, cuộc khởi nghĩa đã toàn thắng vẻ vang. Ngược lại, giặc Minh thất bại thảm hại. Đã đến lúc chúng phải đền bù cho những tội ác tày trời mình đã gây ra.

“Đô đốc Thôi Tụ lê gối dâng tờ tạ tội

Thượng thư Hoàng Phúc trói tay để tự xin hàng

Lạng Giang, Lạng Sơn, thây chất đầy đường

Xương Giang, Bình Than, máu trôi đỏ nước

Ghê gớm thay sắc phong vân phải đổi

Thảm đạm thay ánh nhật nguyệt phải mờ”.

Những kỳ tích vang dội của quân ta giành được chính là nhờ có lòng nhân nghĩa, có sự đóng góp công sức to lớn của từng người, từng người trong đoàn quân ít ỏi với vô vàn khó khăn, thiếu thốn. Đúng như lúc đầu Nguyễn Trãi đã nói “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, Lấy chí nhân để thay cường bạo”. Đến giờ phút này tất cả đã được minh chứng bằng hành động cụ thể, bằng chiến thắng vang dội của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.

nha tho nguyen trai

Sau bao gian lao vất vả, hòa bình đã lập lại, non sông Việt Nam lại đi vào công cuộc xây dựng đổi mới đất nước. Lúc này, lòng nhân nghĩa chính cũng chính là niềm tự hào, tự tôn dân tộc.

“Xã tắc từ nay vững bền

Giang sơn từ đây đổi mới

Kiều khôn bĩ rồi lại thái

Nhật nguyệt hối rồi lại minh

Muôn thuở đều thái bình vững chắc

Ngàn thu vết nhục nhã sạch làu

Âu cũng nhờ trời đất tổ tông khôn thiêng ngầm giúp đỡ mới được như vậy

Thân ôi !

Một cỗ nhung y chiến thắng, nên công oanh liệt ngàn năm

Bốn phương biển cả thanh bình, ban chiếu duy tân khắp chốn

Xa gần bá cáo

Ai nấy đều hay.”

Niềm vui chiến thắng hòa lẫn với hào hứng bắt tay vào công cuộc mới, công cuộc xây dựng đất nước thời bình. Nguyễn Trãi cũng không quên ghi nhớ công lao của những thế hệ trước đã ngầm giúp đỡ.

Như vậy, tư tưởng nhân nghĩa đã xuyên suốt tác phẩm, được minh chứng cụ thể bằng sự chiến thắng vẻ vang oanh liệt của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Trong cuộc khởi nghĩa ấy, một bên ngang tàng ngang sức, ác độc với lực lượng quân đội rất đông và mạnh, vũ khí tối tân hiện đại, còn một bên thiếu thốn trăm bề từ lực lượng đến lương thực… nhưng sau cùng, “đại nghĩa” đã thắng “hung tàn”. Đó cũng là một quy luật tất yếu của tự nhiên. Cái thiện luôn luôn chiến thắng cái ác.

Tư tưởng nhân nghĩa cao đẹp trong tác phẩm khiến ta nhìn lại những gì đang diễn ra trên đất nước mình của ngày hôm nay. Một đất nước hòa bình, độc lập tự do, đầy đủ. Thế nhưng không phải ai cũng cố gắng phấn đấu xây dựng nước nhà. Ngay trong đội ngũ lãnh đạo đất nước đã có không ít kẻ lạm dụng chức quyền mà tham ô tiền của, đất đai của nhân dân. Làm vậy không những không còn lòng nhân nghĩa mà còn trở thành kẻ thù của dân.

Cuộc chiến tranh của thời bình chẳng phải chống lại ai xa lạ mà chống lại chính những kẻ không có lòng nhân nghĩa, những kẻ đã ác tâm làm hại dân lành. Ngược lại, trong thế hệ trẻ cũng có không ít những người đi vào con đường tội lỗi làm nhũng loạn xã hội. Tất cả đều cần phải nhìn nhận lại chính mình, xem xét lại lòng nhân nghĩa của mình ở đâu. Lòng nhân nghĩa xuất phát từ chính những hành động nhỏ nhất như sự cố gắng học tập, làm việc của mỗi cá nhân, sự kỷ luật nghiêm túc của mỗi tập thể…

Tác phẩm đã khép lại nhưng với giá trị như một bản Tuyên ngôn độc lập, Nguyễn Trãi đã để lại cho đời sau một bài học vô cùng sâu sắc về lòng nhân nghĩa. Giọng văn lúc hào hùng, đanh thép, lúc trầm lắng, bình thản đã đưa những câu thơ đi vào lòng người một cách rất tự nhiên. Cho đến nay, tác phẩm vẫn còn nguyên giá trị và được coi là bản Tuyên ngôn độc lập thứ hai của đất nước.

>> Xem thêm: Soạn Bài Bình Ngô Đại Cáo

Phân Tích Tư Tưởng Nhân Nghĩa Trong Bình Ngô Đại Cáo Của Nguyễn Trãi
1 (20%) 1 vote
Spread the love
Loading...

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *