Home / SOẠN BÀI / Soạn Bài Đây Thôn Vĩ Dạ Của Tác Giả Hàn Mặc Tử

Soạn Bài Đây Thôn Vĩ Dạ Của Tác Giả Hàn Mặc Tử

Đề bài: Soạn Bài Đây Thôn Vĩ Dạ Của Tác Giả Hàn Mặc Tử

BÀI LÀM

ĐỌC HIỂU VĂN BẢN

>> XEM THÊM: Phân tích khổ thơ đầu trong bài Đây Thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử

Những nét chính về tác giả

  • Hàn Mặc Tử (1912 – 1940) tên khai sinh là Nguyễn Trọng Trí.
  • Quê ở Quảng Bình, trong gia đình viên chức theo đạo Thiên Chúa.
  • Cuộc đời Hàn Mặc Tử có nhiều bi thương nhưng ông vẫn là một trong những nhà thơ có sức sáng tạo mạnh mẽ.
  • Ông làm thơ từ năm 14, 15 tuổi.
  • Qua diện mạo hết sức bí ẩn và phức tạp của thơ Hàn Mặc Tử, người ta vẫn thấy rõ một tình yêu đến đau đớn về cuộc đời trần thế.
  • Tác phẩm chính: Gái quê (1936), Thơ điên (1938), Xuân Như Ý, Thượng thanh khí, Cẩm châu duyên…

Những nét chính về tác phẩm

  • Đây thôn Vĩ Dạ (lúc đầu có tên Ở đây thôn Vĩ Dạ) sáng tác năm 1938, in trong tập thơ Điên.
  • Theo một số tài liệu, bài thơ gợi cảm hứng từ mối tình của Hàn Mặc Tử với một cô gái quê ở Vĩ Dạ, một thôn nhỏ bên dòng sông Hương nơi xứ Huế mộng mơ và trữ tình.

HƯỚNG DẪN HỌC BÀI

Câu 1.

Khổ thơ đầu:

“Sao anh không về chơi thôn Vĩ?

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền”

Nét đẹp của phong cảnh trong khổ thơ trên:

  • Nét đẹp giản dị, chân phương của chốn làng quê thanh bình yên ả: hàng cau vươn mình trong nắng bình minh trong vắt.
  • Vườn rau xanh mướt dưới nắng. Tác giả đã dùng từ “mướt quá xanh như ngọc” để tả cảnh vườn rau không những xanh mà còn rất non và ngon, ngọt.
  • Con người nơi đây cũng rất đôn hậu với khuôn mặt chữ điền như Hàn Mặc Tử  đã tả: lá trúc che ngang mặt chữ điền.

Tâm trạng của tác giả trong khổ thơ trên:

  • Nhà thơ nhớ nhung da diết cùng với sự tiếc nuối chơi vơi. Bởi thế, ông mới hỏi “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”. Hàn Mặc Tử tự đặt mình vị trí cô gái của thôn quê để hỏi người yêu sao không về chơi. Hoặc có thể đây cũng chính là lời tự vấn Hàn Mặc Tử  đặt ra cho bản thân mình trong sự luyến tiếc, bâng khuâng.
  • Hàn Mặc Tử yêu và mến con người của Vĩ Dạ. Bởi thế, ông mới có được những hình ảnh đẹp nhất, “non” nhất về thôn Vĩ: nắng hàng cau, vườn xanh mướt, vườn trúc, khuôn mặt chữ điền.
  • Đặc biệt, khi tác giả sử dụng đại từ “ai” để hỏi là khi ông đang rất nhớ tới chủ thể của “ai” đó.

Như vậy, cảnh đẹp của thôn Vĩ được Hàn Mặc Tử hồi tưởng lại và tả rất chân thực, chi tiết. Điều đó càng cho thấy tình cảm mà Hàn Mặc Tử dành cho thôn Vĩ, cho người con gái nơi đây là rất đặc biệt và sâu sắc.

Câu 2.

Hình ảnh gió, mây, sông trăng, trong khổ thơ thứ hai:

“Gió theo lối gió, mây đường mây

Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có trở trăng về kịp tối nay?”

Loading...
  • Thông thường gió thổi mây bay, nhưng ở đây lại là “Gió theo lối gió, mây đường mây”. Gió và mây tách biệt nhau, ngược lối nhau. Đây là một nghịch lý của tự nhiên.
  • Dòng nước buồn thiu với sự chuyển động rất nhẹ nhàng của hoa bắp lay. Từ “buồn thiu” chỉ tâm trạng của con người. Khi được sử dụng miêu tả dòng nước, ta hình dung ra một làn nước vắng vẻ, không chút khuấy động.
  • Thuyền và trăng: đây là hai hình ảnh tượng trưng cho người đang yêu với nỗi khát vọng tình yêu đang trà trề.

Như vậy, bằng cách đưa ra những nghịch lý của tự nhiên và thổi hồn mình vào cảnh vật xung quanh, Hàn Mặc Tử đã thể hiện tình yêu thương sâu sắc vô cùng lớn lao của mình. Ông yêu thiên nhiên, yêu con người, yêu tất cả. Nhưng trong lúc này, ông đang bệnh, và đang ở xa thôn Vĩ, chưa thể về được. Thế nên, ông bâng khuâng để cảm xúc tuôn trào trên đầu cây bút rồi đưa ra một câu hỏi mông lung không xác định câu trả lời: “Có trở trăng về kịp tối nay?”.

soan bai day thon vi da

Câu 3.

Khổ thơ thứ ba:

Mơ khách đường xa, khách đường xa

Áo em trắng quá nhìn không ra

ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Ai biết tình ai có đậm đà?

Hàn Mặc Tử vẫn tiếp tục bộ lộ tâm trạng buồn bã, nhớ nhung của mình qua những vần thơ đậm chất trữ tình. Trong câu thơ cuối, tác giả có chút hoài nghi “Ai biết tình ai có đậm đà?”. Câu thơ mang hai nghĩa:

  • Nghĩa thứ nhất là sự hoài nghi của Hàn Mặc Tử về tình cảm của cô gái nơi thôn quê. Liệu rằng cô ấy có còn nhớ đến mình nữa không.
  • Nghĩa thứ hai là tác giả đang tự hỏi liệu cô ấy có hiểu tình cảm của mình lúc này không? Do Hàn Mặc Tử sử dụng đại từ “ai” không xác định rõ cụ thể đối tượng nào nên ta có thể hiểu theo cả hai nghĩa trên.

Câu 4.

Tứ thơ và bút pháp của bài thơ:

  • Hàn Mặc Tử đã viết từ cảnh thật, cụ thể (hàng cau, vườn rau, vườn trúc, khuôn mặt chữ điền) cho đến những hình ảnh mang tính tượng trưng (thuyền, trăng).
  • Tác giả đã mượn cảnh tả tình (dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay)
  • Bút pháp nghệ thuật của bài thơ được kết hợp một cách hài hòa, nhịp nhàng giữa cảnh thật và cảnh tượng trưng. Cả hai đan xen nhau để thể hiện nỗi niềm thầm kín mà Hàn Mặc Tử muốn bộc lộ với người yêu.

>> XEM THÊM: Phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử

>> XEM THÊM: Phân tích khổ thơ thứ 3 trong bài Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mạc Tử

Please follow and like us:
Loading...

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Social media & sharing icons powered by UltimatelySocial