Home / VĂN MẪU THPT / Văn mẫu lớp 10 / Phân Tích Đoạn Trích Nỗi Thương Mình Trong Truyện Kiều Của Nguyễn Du

Phân Tích Đoạn Trích Nỗi Thương Mình Trong Truyện Kiều Của Nguyễn Du

Đề bài: Phân Tích Đoạn Trích Nỗi Thương Mình Trong Truyện Kiều Của Nguyễn Du

BÀI LÀM

Nguyễn Du (1766_1820) là "đại thi hào của dân tộc Việt Nam. Ông xuất thân trong một gia đình quan chức lớn. Bản thân ông cũng là mệnh quan triều đình những ông còn là 1 nhà thơ lớn có những đóng góp không nhỏ vào nền thi Việt Nam với những bài thơ văn đặc sắc có sức ảnh hưởng to lớn vào nền thi ca thế giới. Một trong số đó phải kể đến tác phẩm Truyện Kiều kể về cuộc đời của người con gái hồng nhan bạc phận thời phong kiến xinh đẹp: Thúy Kiều. Từ lúc gia đình gặp biến cố, Thúy Kiều bán mình chuộc cha, Kiều đã trải qua biết bao nhiêu sóng gió, bị vùi dập đủ đường, gặp phải biết bao đau đớn, tủi nhục, bị lừa lọc phải vào làm kỹ nữ ở lầu xanh. Những ngày tháng đau khổ ấy đã được Nguyễn Du tài tình miêu tả qua đoạn trích "Nỗi thương mình. Đoạn trích thuộc phần "Gia biến và lưu lạc từ câu 1229 đến câu 1248.

>> XEM THÊM: Phân tích đoạn thơ Trao Duyên trong Truyện Kiều

"Biết bao bướm lả ong lời

Cuộc say đầy tháng trận cười suốt đêm”

Nguyễn Du đã sử dụng biện pháp ước lệ tượng trưng kết hợp với hình ảnh ẩn dụ "bướm ong" khái quát một cách trần trụi nhất về khung cảnh ăn chơi ồn ào, nha nhớ ở lầu xanh. Từ "Biết bao" được tác giả bỏ lên đầu câu như một sự nhấn mạnh về mức độ thường xuyên, số lượng nhiều đến mức không thể đếm được của "bướm, ong". Ở đây, ta có thể hiểu "bướm là các kĩ nữ, "ong" là khách làng chơi. Những cô kĩ nữ đong đưa mời gọi lả lướt đón khách đến rồi lại đong đảnh tiễn khách về sau những cuộc ăn chơi trác táng. Những cuộc vui kín lịch đến "đầy tháng" , đến "suốt đêm", những từ gợi tả thời gian liên tục, dày đặc được tác giả đưa vào sử dụng. Khung cảnh lầu xanh lộ rõ chân thực nhất là nơi nhậu nhẹt với từ "cuộc say", ăn uống, vui chơi, đàn đúm của khách làng chơi với từ "trận cười".

"Dập dìu lá gió cành chim

Sớm đưa Tống Ngọc, tối tìm Trường Khanh”

Tác giả đã kết hợp tài tình, đan xen giữa biện pháp đối xứng "lá gió" với "cành chim", "sớm đưa" với "tối tìm" cùng với các điển tích điển cố "lá gió cành chim", "Tống Ngọc Trường Khanh để cho thấy lầu xanh là nơi mà những người đàn ông xa lạ từ bốn phương tám hướng tụ về vui chơi. Những cô kĩ nữ phải tiếp những nguời xa lạ ấy mà không được quyền lựa chọn, than vãn ai. Miễn họ có tiền, họ được quyền làm chủ cuộc chơi. Qua đó, bộc lộ rõ tâm trạng của Kiều đau đớn, bẽ bàng và nhục nhã khôn xiết cho thân phận nghiệt ngã của bản thân mình. Đại thi hào Nguyễn Du khéo léo kết hợp việc tách từ với tiểu đối, đối xứng không chỉ nhằm mục đích tái hiện tình cảnh trớ trêu của Kiều ở lầu xanh mà còn thể hiện cái nhìn cảm thông, trân trọng đối với nhân vật của mình.

"Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh

Giật mình mình lại thương mình xót xa"

Người ta thường nói "kẻ thù lớn nhất của mình chính là chính mình". Thật vậy, sống trong cảnh lầu xanh nhơ nháp, đầy tủi nhục, những thiếu nữ bị buộc phải mua vui cho cánh đàn ông như Kiều có lẽ sợ nhất là "khi tỉnh rượu, lúc tàn canh" là khi họ đối diện với chính bản thân mình. Họ tỉnh táo nhận thấy rõ mình là ai, đang làm gì và cảm thấy cô đơn, nhục.nhã. Nàng kiều cang ý thức sâu sắc hơn về nhân phẩm của mình. Mới đầu, nàng chợt "giật mình", bàng hoàng, ngơ ngác vì nghĩ đây là ác mộng nhưng đau đớn thay, ác mộng lại biến thành hiện thực.

Kiều đã biến thành con người hoàn toàn khác, con người mà trước đây nàng chưa từng nghĩ tới. Sau khi đã "tỉnh rượu lại càng "thương mình" hơn, "xót xa" và cô đơn hơn. Sự cô đơn đó được tác giả diễn đạt bằng ba từ "mình" trong một câu thơ. Chưa bao giờ, nàng Kiều chua xót đến thế. Nàng ý thức được nhân cách, phẩm giá của bản thân, càng nhận thức rõ ràng hơn quyền tự do, quyền sống của bản thân bị xâm phạm. Đó là lúc giọt nước mắt "xót xa", tiếng khóc nấc lẫn tiếng thở dài của nỗi đau người kĩ nữ. Nỗi đau đó không thể san sẻ với ai. Tác giả không chỉ sử dụng những từ ngữ chỉ lông gian, thời gian mà còn dùng nhịp thơ để vẽ lên tâm trạng xót xa cho thân phận mình của nàng Kiều. Câu trước nhịp 3/3 là bước đi của thời gian. Câu sau với nhịp thơ 2/4/2 diễn tả sự đứt gãy trong tâm trạng nhân vật.

"Khi sao phong gấm rủ là

Giờ sao tan tác như hoa giữa đường

Mặt sao dày gió dạn sương

Thân sao bướm chán ong chừng bất thân"

Loading...

Bằng việc sử dụng biện pháp đối xứng giữa việc hồi tưởng quá khứ với hiện tại như "khi sao" đối lập với "giờ sao", "phong gấm rủ là" đối lập với "tan tác như hoa giữa đường tô đậm cuộc sống hiện tại đầy tủi nhục, ê chề của nhân vật. Ngày xưa, nàng sống trong êm đều, hạnh phúc, no đủ và bình yên, còn bây giờ nàng chán chường, mệt mỏi và ghê sợ chính bản thân mình. Biện pháp lặp từ "sao" đến bốn lần kết hợp với việc sử dụng thành ngữ biến tấu một cách sáng tạo "dày gió dạn sương", "bướm chán ong chường" tạo giọng thơ chán ngán, buồn khổ. Qua đây, tác giả đã thể hiện rõ tâm trạng đau đớn, tủi nhục đến tận tim gan của nàng Kiều thi thân thể, nhân phẩm bị vùi dập, chà đạp phũ phàng đến thế. Nàng Kiều.như tự tra vấn, giày vò bản thân, kết án chính mình qua hàng loạt từ để hỏi và cảm thán như "khi sao", "giờ sao", "mặt sao", "thân sao". Nàng chất vấn, oán trách, căm hận số phận đã thay đổi thân phận, giá trị con người mình.

"Mặc người mưa Sở, mây Tần

Những mình nào biết có xuân là gì”

Từ "mặc" thể hiện sự bất lực, phó mặc mọi việc muốn ra sao cũng được đến mức buông bỏ bản thân vì Kiều chẳng thể thay đổi được gì. Từ "người" đối lập với từ "mình" ở đây chỉ số lượng nhiều của khách làng chơi phải tiếp với số lượng ít là 1 mình Kiều. Đây là tận cùng nỗi đâu thể xác tinh thần của nàng. Sống đời làm vợ thế gian thì không còn "Biết có xuân là gì", cũng không biết hạnh phúc lứa đôi khi tết đến xuân về. Ngày này qua ngày khác, kể cho người ta "mây sở mưa tầng thì nàng cũng kệ.

"Đòi phen gió tựa hoa kề

Nửa rèm tuyết ngậm bốn bề trăng thâu

Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu

Người buồn cảnh có vui đây bao giờ

Đòi phen nét vẽ câu thơ

Cung cầm trong nguyệt nước cờ dưới hoa

Vui là vui gượng kẻo là

Ai tri âm đó mặn mà với ai

Mặc dù được ngụy trang khéo léo bằng bức tranh ngoại cảnh thiên nhiên xinh đẹp, tao nhã với phong, hoa, tuyết, nguyệt, đầy đủ cầm kì thi họa nhưng cảnh đẹp nên thơ ấy lại như một sự giễu cợt, mỉa mai chua chát cho cái chốn "buôn thịt bán người" bẩn thỉu, nhơ nháp bên trong, cho số phận hẩm hiu của Kiều. Bởi vậy nên nàng từng muốn thây đổi nắm lấy số phận của mình. Điều đó đựơc biểu hiện qua việc lặp từ "đòi phen". Đoạn thơ còn vẽ lên hình ảnh tương phản của nàng Kiều. Một mặt, nàng xinh đẹp, vui vẻ giả tạo đón khách. Một mặt, nàng cô đơn, tủi nhục, đau đớn, xót xa mỗi lúc canh tàn. Người buồn thì khi "gió tựa hoa kề", khi có cung cầm thi họa cũng không làm vui lòng người kĩ nữ ấy được. Nỗi sầu nghẹn ứ trong lòng Kiều lan tỏa sang cảnh vật:

doan trich noi thuong minh

"Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu

Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ"

Câu thơ như lời tuyên bố của tác giả về việc khái quát tâm lý chung của con người thành quy luật, nói lên giữa ngoại cảnh và tâm cảnh. Người ta thường lấy thiên nhiên miêu tả tâm trạng của con người nhưng ở đây, Nguyễn Du đã sử dụng cả hai cách : thiên nhiên hô ứng và Thiên nhiên đối ứng. Hô ứng: cảnh buồn cùng tâm trạng con người. Đối ứng: cảnh đẹp mỉa mai, chế giễu, dằn vặt nhân vật. Dù bằng các cách khác nhau nhưng tất cả các cảnh thiên nhiên ấy đều tập trung lột tả thế giới nội tâm nhân vật. Xung quanh Kiều là những gì đẹp nhất, hoan lạc nhất của thiên nhiên, cuộc sống, những nàng vẫn vô cảm, lạc lõng. Thân xác trở thành hàng hóa, trò chơi thì còn gì là vui sướng. "Ai trI ân đó mặn mà với ai. Thật vậy, sống trong cảnh nhơ nháp, tạp nham chốn lầu xanh là điều bất dĩ đối với Kiều, giữa nơi đồng tiền ngự trị, nàng chỉ đau đớn hơn thôi. Tìm đâu được người tri âm, tri kỷ? Phút giây tia hi vọng le lói trong tâm trí nàng cũng chợt tắt. Sự lẻ loi của nhân vật cũng chính là sự lẻ loi của tác giả. Như lúc đứng trước mộ Tiểu Thanh, Nguyễn Du có câu này:

"Bất tri tam bách dư niên hậu

Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như".

Như vậy, đoạn trích "Nỗi thương mình" vừa là những nỗi niềm tủi hờn cho thân phận của cô gái xinh đẹp, tài hoa nhưng bất hạnh, vừa là lời oán trách thời thế, nhân gian của nhà thơ. Nguyễn Du đã rất thành công khi sử dụng linh hoạt các từ ngữ, hình ảnh miêu tả trạng thái, tâm lí buồn thương ngao ngán của nhân vật, qua đó gửi gắm những nỗi niềm riêng tư, thầm kín của chính bản thân mình.

>> XEM THÊM: Soạn bài Nỗi thương mình (Trích Thúy Kiều – Nguyễn Du)

Phân Tích Đoạn Trích Nỗi Thương Mình Trong Truyện Kiều Của Nguyễn Du
Rate this post
Spread the love
Loading...

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *