Home / SOẠN BÀI / Soạn Bài Nỗi Thương Mình (Trích Thúy Kiều – Nguyễn Du)

Soạn Bài Nỗi Thương Mình (Trích Thúy Kiều – Nguyễn Du)

Đề bài: Soạn bài Nỗi thương mình (Trích Thúy Kiều – Nguyễn Du)

BÀI LÀM

Câu 1.

Đoạn trích trên có thể chia thành 3 đoạn:

>> XEM THÊM: Phân tích đoạn thơ Trao Duyên trong Truyện Kiều

  • Đoạn 1: Từ đầu đến “Sớm đưa Tống Ngọc tối tìm Đường Khanh”: Cuộc sống nhơ nhớp và đầy ngang trái của Thúy Kiều ở chốn Lầu Xanh.
  • Đoạn 2: Tiếp theo đến “Nhưng mình nào có biết xuân là gì”: Tâm trạng buồn thương ngao ngán, xót xa tủi hờn của Thúy Kiều khi phải sống chôn mình trong kiếp sống dơ bẩn ở Lầu Xanh. Đồng thời thể hiện niềm khát vọng âm thầm của nàng với cuộc sống tự do, phóng khoáng bên ngoài.
  • Đoạn 3: phần còn lại: Mượn cảnh tả tình, Nguyễn Du đã thể hiện tâm trạng đau khổ của Thúy Kiều khi lên đến đỉnh điểm. Nỗi buồn ấu thấu cả đất trời và thiên nhiên.

Câu 2.

Bút pháp ước lệ trong đoạn trích:

  • “Cuộc say đầy tháng trận cười suốt đêm”
  • “Khi sao phong gấm rủ là/Giờ sao tan tác như hoa giữa đường”
  • “Đòi phen gió tựa hoa kề/Nửa rèm tuyết ngậm bốn bề trăng thâu”

Tất cả những câu thơ trên đều mang tính ước lệ đã khắc họa rất sâu sắc tâm trạng đau khổ, chán trường của Thúy Kiều khi phải sống trong cảnh tối tăm, dơ bẩn của chốn lầu xanh. Những từ ngữ, hình ảnh ước lệ của Nguyễn Du đã giúp người đọc thấu hiểu được cuộc sống éo le, ngang trái của Thúy Kiều, đồng thời thể hiện tấm lòng trong sáng và tâm hồn thanh cao của nàng dù phả sống ê trề, tủi nhục.

soan bai noi thuong minh

Câu 3.

Các dạng thức đối xứng khác nhau được sử dụng trong đoạn trích:

  • Sự đối xứng trong các cụm từ: bướm lả – ong lơi ; lá gió – cành chim; dày gió – dạn sương; bướm chán – ong chường; mưa Sở – mây Tần; gió tựa – hoa kề. Sự đối xứng này được Nguyễn Du đặt liền kề nhau trong một câu thơ, thể hiện sự thật một cách trần trụi, đớn đau về cuộc sống nhơ nhớp của Thúy Kiều và tâm trạng đau khổ của nàng ở chốn lầu xanh.
  • Sự đối lập trong từng câu thơ: “Cuộc say đầy tháng khi cười suốt đêm”, “Sớm đưa Tống Ngọc tối tìm Trường Khanh”, “Khi tỉnh rượu lúc tàn canh”. Miêu tả cuộc sống triền miên và nỗi đau đằng đẵng đeo bám thân phận người con gái xinh đẹp, tài hoa mà bất hạnh.
  • Sự đối lập giữa các câu thơ: “Khi sao phong gấm rủ là/ Giờ sao tan tác như hoa giữa đường”, “Mặt sao dày gió dạn sương/Thân sao bướm chán ong chường bấy thân”, “Vui là vui gượng kẻo là/Ai tri ân đó mặn mà với ai?”. Sự đối lập trong những cặp thơ lục bát càng khắc họa thêm sự thật bẽ bàng và nỗi đau tủi hờn xót thương thân phận phải sống trong cảnh giả dối, gượng ép. Đặc biệt câu thơ cuối cùng “Ai tri ân đó mặn mà với ai” càng làm cho nỗi đau của người kĩ nữ thêm sâu sắc và khắc khoải.

Câu 4.

Loading...

Ý nghĩa mới mẻ của “nỗi thương mình” của nhân vật đối vơi văn học trung đại:

  • Trong nền văn học trung đại, hầu hết các nhà thơ và các nhân vật trong thơ đều nói đến cái chung, cái “ta” nhiều hơn là nói đến cái riêng, cái “tôi” của cá nhân mình. Trong khi đó, “nỗi thương mình” lại là những tâm trạng đớn đau và số kiếp của một người kĩ nữ. Ở đây chỉ nói đến cái “tôi” chứ không nói đến cái ta chung của cả một thế hệ hay một tầng lớp nào.
  • Trong khi những người con gái khác cùng thời với Thúy Kiều sống trong sự an bài của số phận, của gia đình sắp đặt thì Thúy Kiều lại khát khao được sống tự do, được tự mình quyết định cuộc sống của bản thân. Nhưng cuộc đời éo le không cho phép Thúy Kiều được làm những gì mình muốn. Nàng uất hận nhưng vẫn phải cam chịu, khát khao nhưng lại âm thầm trong kiếp sống nhơ nhớp chốn lầu xanh.

Câu 5.

Trong cuộc tái ngộ, Kim Trọng nói vơi Thúy Kiều: “Như nàng lấy hiếu làm trinh – Bụi nào cho đục được mình ấy vay?”. Thúy Kiều đã phải bán mình để trả nợ cho cha. Vì không muốn cha phải khổ, phải sống kiếp đọa đày, Kiều đã hi sinh cả chữ trinh của mình. Đoạn trích này đã khắc họa lại cuộc sống của Kiểu ở chốn lầu xanh. Dù phải lấy thân mình ra tiếp khách nhưng đó chỉ là công việc của thể xác, còn tâm hồn và nhân cách của Kiều vẫn luôn trong sạch và thanh cao. Điều đó được thể hiện rất rõ qua tâm trạng chán chường, tủi hổ và xót xa của Kiều trong từng vần thơ, từng câu chữ.

Đặc biệt, những phép đối lập trong đoạn trích càng thể hiện rõ sự bẽ bàng của người kĩ nữ, đồng thời ngợi ca nhân cách của Kiều, dù sống trong cảnh nhơ nhớp, dơ bẩn nhưng chưa bao giờ nàng chấp thuận hay thích thú cuộc sống ấy.

>> XEM THÊM: Phân Tích Đoạn Trích Nỗi Thương Mình

Soạn Bài Nỗi Thương Mình (Trích Thúy Kiều – Nguyễn Du)
Rate this post
Spread the love
Loading...

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *