Home / VĂN MẪU THPT / Văn mẫu lớp 10 / Phân Tích Bài Đồng Giao Bao Giờ Cho Đến Tháng Ba

Phân Tích Bài Đồng Giao Bao Giờ Cho Đến Tháng Ba

Đề bài: Phân Tích Bài Đồng Giao Bao Giờ Cho Đến Tháng Ba

BÀI LÀM

Nằm trong kho tàng văn học dân gian hay còn gọi là văn học bình dân không cần đến những “khuôn vàng, thước ngọc”, những điển tích, điển cố cầu kì, xa hoa. Ca dao, dân ca, đồng dao chỉ bình dị, giản đơn và gần giũi. Bởi ca dao, dân ca chính là “tấm gương” phản ánh chân thực nhất đời sống vật chất cũng như đời sống tinh thần của ông cha ta “ngày xưa”. Đặc biệt là những bài đồng giao dành cho trẻ nhỏ vui đùa lúc chăn trâu, cắt cỏ. Dễ thuộc, dễ nhớ nhưng vẫn mang đầy đủ vẻ đẹp “muôn hình, vạn trạng” của thiên nhiên, cuộc sống. Nổi bật phải kể đến bài đồng dao “Bao giờ cho đến tháng ba”.

Mở đầu bài đồng dao là một câu hỏi “Bao giờ cho đến tháng ba?”. Câu hỏi mang sự mong ngóng đó đã ngay lập tức gây hứng thú đặc biệt cho độc giả. Tại sao? vì sao? tháng ba có gì đặc biệt? có gì thú vị? mà lại khiến nhân dân mong chờ đến vậy?

Để giả thích, trả lời câu hỏi đó, ở những câu kế tiếp, bài đồng dao mang đến một loạt những hiện tượng cực kì thú vị, bất ngờ về thế giới tự nhiên cũng như đời sống sinh hoạt của con người.

 “Ếch cắn cổ rắn tha ra ngoài đồng,

Hùm nằm cho lợn liếm lông”, nghe mới lạ lẫm, ngược đời làm sao. Và có lẽ chẳng bao giờ những hiện tượng này xảy ra trong thực tế. Ếch vốn dĩ là một loài động vật hiền lành, không có chất độc, không có móng vuốt, một miếng mồi ngon lành cho những con rắn với răng nanh, nọc độc đáng sợ, loài bò sát nguy hiểm nhất thế giới tự nhiên. Tương tự, lợn cũng vậy hiền lành, miếng mồi béo ngậy cho hùm khỏe mạnh, nguy hiểm được mệnh danh là “chúa tể muôn loài”. Ấy vậy mà ở đây mọi việc lại đảo ngược hoàn toàn ếch có thể “cắn” cổ rắn tha ra ngoài đồng, hùm oai phong, lẫm liệt là thế lại phải nằm im lặng, ngoan ngoãn để lợn “liếm” lông. Thật là những hiện tượng lạ kỳ, có lẽ chỉ xảy ra ở “tháng ba” trong những bài đồng giao thế này.

“Tháng ba” trong thế giới động vật ếch có thể trả được mối thù truyền kiếp với rắn, lợn và hùm cũng đã “thay bậc đổi ngôi”. Vậy còn đối với thế giới loài người thì sao?

“Một chục quả hồng nuốt lão tám mươi,

 Năm xôi nuốt trẻ lên mười

 Con gà be rượu nuốt người lao đao”.

 Quả hồng nhỏ nhắn, màu đỏ thắm, xinh tươi được coi là món quà quý của con cháu dành tặng ông bà nhân dịp lễ mừng thọ tám mươi, chín mươi với ý nghĩa chúc tụng, thể hiện lòng hiếu thảo, kính yêu. Còn nắm xôi thơm dẻo, ngon lành là thức quà hấp dẫn mọi đứa trẻ. Vẫn sử dụng nghệ thuật chơi chữ nói ngược đầy thú vị, hoán đổi vị trí vốn có của con người. Từ thưởng thức món ngon nay lại bị những “quả hồng”, “nắm xôi” “nuốt” trọn. Đem đến cho người đọc, người nghe những tiếng cười vui vẻ, sảng khoái.

bao gio cho den thang ba

Thế nhưng trong cuộc sống đâu chỉ có những điều đẹp đẽ, đâu chỉ có lòng yêu mến, hiếu thảo của con cháu danh cho ông bà, cha mẹ, đâu chỉ có sự hồn nhiên, đáng yêu của trẻ nhỏ mà còn có cả “Con gà be rượu nuốt người lao đao” là đảo ngược những cũng chẳng phải đảo ngược. “Người lao đao” ở đây mà các tác giả dân gian muốn nhắc đến chính là những người khi say rượu, những người bị men rượu làm cho lảo đảo, lao đao, bước đi không vững, tâm trí không thông thì thực sự bị những “be rượu”, “con gà”, mồi nhắm nuốt trọn chứ chẳng phải là người “nuốt” những be rượu, “nuốt” những con gà.

Cuộc sống không chỉ tồn tại những điều tốt đẹp, đáng yêu, đáng khen ngợi, học hỏi mà còn rất nhiều điều đáng phê phán, lên án, những thói hư tật xấu. Rượu say “quên đất, quên trời” một thói xấu không chỉ hao tiền, tốn của mà còn gây hại cho sức khỏe của con người. Câu đồng dao đã rất thành công trong việc mỉa mai, châm biếm thói rượu say của một bộ phận  người trong xã hội đồng thời vẫn giữ nguyên vẹn tiếng cười giòn giã, sảng khoái vốn có.

Loading...

Những câu thơ cuối, bài đồng dao vẫn giữ nguyên nghệ thuật chơi chữ nói ngược. Không chỉ đem đến tiếng cười mà còn mang lại những kiến thức đầu đời vô cùng bổ ích và thú vị cho trẻ nhỏ:

“Lươn nằm cho trúm bò vào,

Một đàn cào cào đuổi bắt cá rô.

Lúa mạ nhảy lên ăn bò,

Cỏ non, cỏ lác rình mò bắt trâu.

Gà con đuổi đánh diều hâu,

Chim ri đuổi đánh vỡ đàu bồ nông.”

Những câu đồng dao, dễ thuộc, dễ nhớ, gây hứng thú cho trẻ thơ và chỉ cần đảo ngược lại vị trí hình ảnh các em đã  tự tích lũy cho mình nhiều kiến thức về thế giới tự nhiên, và xã hội loài người vô cùng bổ ích. Các em sẽ biết khi bắt lươn cần dùng trúm; trâu, bò ăn cỏ, ăn lúa; gà con, chim ri là miếng mồi của diều hâu, bồ nông,…Bằng nghệ thuật chơi chữ nói ngược kết hợp nhuần nhuyễn với những hình ảnh thiên nhiên, động vật quen thuộc, những hình thức sinh hoạt, lao động của con người bài đồng dao đã thành công trong nhiệm vụ đem đến tiếng cười hồn nhiên, vui vẻ cùng kiến thức bổ ích, hấp dẫn cho trẻ nhỏ.

Bên cạnh tiếng cười hồn nhiên, sảng khoái cũng như mọi thể loại khác nằm trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam ta. Bài đồng dao còn là phương tiện gửi gắm tâm tư, tình cảm của nhân dân lao động trong xã hội phong kiến đầy rẫy những áp bức, bất công. Trong xã hội phong kiến khi xưa với sự phân biệt sâu sắc giữa kẻ giàu và người nghèo, giữa tầng lớp thống trị và bị trị. Trong xã hội ấy nhân dân lao động là thân phận thấp hèn, không chút quyền hành phải chịu sự thống trị tuyệt đối của tầng lớp vua chúa, quý tộc – những kẻ thống trị. Họ là những thân phận nhỏ bé, thấp hèn như con ong, cái kiến, con ếch, con lợn,.. luôn luôn là miếng mồi ngon, luôn luôn bị đè đầu cỡi cổ bởi những con rắn, con hùm, cái trúm,…  Chính vì cuộc sống có quá nhiều áp bức, bóc lột, bất công nhân dân đã khao khát, mong chờ “tháng ba”. Nếu như nhân dân mong nghóng:

 “Bao giờ cho đến tháng mười

Ta đem liềm hái ra ngoài ruộng ta

Gặt hái ta đem về nhà

Phơi khô quạt sạch ấy là xong công”

Ở nền nông nghiệp phong kiến còn rất lạc hậu không phải như ngày nay một năm hai vụ mà chỉ có một vụ lúa hàng năm. Chính vì vậy nhân dân lao động luôn mong mỏi “bao giờ cho đến tháng mười”, đến tháng của mùa thu hoạch, có thể ra đồng gặt lúa đem đến những bữa cơm no cho gia đình. Nếu “tháng mười” là một tháng cụ thể, thực tế thì “tháng ba” trong bài đồng dao “ Bao giờ cho đến tháng ba” lại là một khoảng thời gian ước lệ, tượng trưng. Nhân dân lao động trong xã hội phong kiến xưa mong đến “tháng ba” đến quãng thời gian mà mọi sự vật, hiện tượng trở nên đảo ngược, hoán đổi vị trí cho nhau. Những con vật nhỏ bé, yếu đuối như ếch, lợn, chim ri,… sẽ trở nên mạnh mẽ, sẽ không còn bị những con rắn, con hùm,… ăn thịt, áp bức. Đây cũng  chính là ước mơ cháy bỏng của nhân dân lao động khi xưa, mong ước có một cuộc sống vui vẻ, hạnh phúc, công bằng, văn minh hơn.

Bằng việc sử dụng thành công nghệ thuật chơi chữ nói ngược, cùng những hình ảnh sinh động, gần giũi, thân thiết với con người. Bài đồng dao không chỉ thành công trong việc vẽ nên một bức tranh sinh động đầy màu sắc về thế giới tự nhiên cũng như đời sống sinh hoạt của con người, đem đến những tràng cười vui vẻ, sảng khoái cho trẻ thơ, cho nhân dân sau những giờ lao động mệt nhọc mà còn thể hiện được tâm tư, tình cảm, nguyện vọng cháy bỏng của nhân dân về một xã hội công bằng văn minh hơn.

Thật vậy, vốn được mệnh danh là “Những câu hát đi từ trái tim lên đến miệng”, những bài ca dao, dân ca, đồng dao xứng đáng được coi là “tấm gương soi rọi”, “bức tranh rực rỡ hương sắc” phản ánh đày đủ đời sống vật chất cũng như đời sống tinh thần của ông cha ta “ngày xưa”. Chẳng ai biết chính xác bài đồng dao “Bao giờ cho đến tháng ba” có từ khi nào chỉ biết là cho đến tận ngày nay bài đồng dao vẫn giữ nguyên giá trị. Vẫn là nguồn vui của trẻ thơ Việt Nam hàng ngàn thế hệ.

Spread the love
Loading...

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *