Home / VĂN MẪU THCS / Văn mẫu lớp 8 / Phân Tích Bài Thơ Viếng Lăng Bác Của Tác Giả Viễn Phương

Phân Tích Bài Thơ Viếng Lăng Bác Của Tác Giả Viễn Phương

Đề bài: Phân tích bài thơ Viếng Lăng Bác của Viễn Phương

BÀI LÀM

Chủ tịch Hồ Chí Minh là một đề tài sáng tác rộng lớn, cả cuộc đời Người hi sinh cho độc lập, tự do của dân tộc. Đây là nguồn cảm hứng cho nhiều nhà văn, nhà thơ và họ đã dành hết tâm huyết của mình để viết về Người-một cuộc đời cách mạng vĩ đại. Có nhiều nhà thơ đã khai thác thành công đề tài Bác Hồ. Tố Hữu có bài "Sáng tháng Năm", "Bác ơi"; Chế Lan Viên có "Người đi tìm hình của nước", và Viễn Phương với "Viếng lăng Bác".

Bài thơ được viết vào năm 1976, đây là thời điểm miền Nam vừa giải phóng, đất nước vừa thống nhất, công trình lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa được hoàn thành. Ước mơ được ra Hà Nội viếng lăng Bác của đồng bào miền Nam đã có thể được thực hiện. Nhà thơ Viễn Phương cũng là một trong số những đồng bào chiến sĩ miền Nam sau giải phóng được ra Hà Nội viếng lăng Bác. Cảm xúc trong bài thơ là cảm xúc tự đáy lòng của nhà thơ trong giờ phút thiêng liêng ấy. Dù ra đời muộn khi đã xuất hiện nhiều bài thơ đã được coi là đỉnh cao trong mảng sáng tác viết về Hồ Chí Minh. Nhưng "Viếng lăng Bác" vẫn được đánh giá là một trong những tác phẩm thành công xuất sắc và nhanh chóng chiếm được cảm tình từ bạn đọc.

Khổ thơ đầu, Viễn Phương đón nhận niềm may mắn được ra viếng lăng Bác bằng một tâm trạng xúc động vô bờ:

Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác

Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát

Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam 

Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng.

Câu thơ mở đầu gợi ra một thông báo trong cảm xúc xúc động, bồi hồi của một người con từ miền Nam xa xôi sau bao năm mong mỏi mới được ra viếng Bác. Trong mỗi chúng ta ai cũng biết rằng, qua những năm đấu tranh giải phóng miền Nam, Bác luôn hướng về miền Nam bằng tình nghĩa sâu nặng: "Miền Nam luôn ở trong trái tim tôi". Chính vì vậy mà Viễn Phương ra thăm Bác lần này không phải là một người khách thông thường mà là một người con về thăm lại người cha già kính yêu. Từ "thăm" thay cho từ "viếng" ở nhan đề bài thơ gợi tả một cuộc gặp gỡ, trò chuyện của những người đang sống, đồng thời làm giảm sự đau buồn, thương tiếc. Cách xưng hô "con-Bác" là cách xưng hô rất miền Nam, ngọt ngào, gần gũi, yêu thương rất đỗi Nam Bộ, đồng thời đó là cách xưng hô của tình cha con thân mật, gần gũi như trong một gia đình. Mấy tiếng "con ở miền Nam" Bao hàm một nỗi đau, một niềm tự hào: con ở miền Nam gian khổ và anh hùng, miền Nam đi trước về sau, miền Nam thành đồng của tổ quốc, miền Nam vừa chiến thắng kẻ thù nay con mới được về trong đại gia đình Việt Nam đây Bác ơi! Con vẫn thấy Bác như sống mãi với con người đất nước Việt Nam. Câu thơ tạo khoảng cách gần gũi như chưa phải là đã có sự li biệt âm dương cách trở. 

bai tho vieng lang bac

Nhà thơ đến đây từ rất sớm và cảm nhận quanh lăng Bác trong làn sương mờ của một ngày Hà Nội. Hình ảnh hàng tre xanh bát ngát, một hình ảnh hết sức quen thuộc của làng quê Việt Nam, là biểu tượng của con người Việt Nam. Nghệ thuật ẩn dụ liên tưởng làm ta nhớ đến bài "tre Việt Nam" của Nguyễn Duy. Tác giả đã khái quát những phẩm chất của con người: Sức sống bền bỉ kiên trì trước phong ba bão táp, trước bom đạn của cuộc chiến tranh, người dân Việt Nam vẫn anh hùng, không hề khuất phục bởi một sức mạnh nào. Từ "ôi" đứng ở đầu câu thơ diễn tả cảm xúc trào dâng của Viễn Phương khi nhìn thấy tre-màu xanh quê hương, màu xanh hòa bình, màu xanh Việt Nam. Nhà thơ đã vận dụng thành công thành ngữ "bão táp mưa sa" để thể hiện những khó khăn, vất vả mà cây tre phải đương đầu cũng như những vất vả, truân chuyên mà bao thế hệ người Việt đã chiến đấu để chiến thắng. Những câu thơ đã tạo nên không khí ấm áp, gần gũi mà đầy ắp tình người.

Qua những hàng tre, nhà thơ bồi hồi tiến về lăng Bác, khung cảnh gần lăng càng khiến Viễn Phương xúc động hơn nữa:

Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ.

Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ

Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân.

Tiếp tục theo dòng người vào lăng chầm chậm bước đi, Viễn Phương đã nhận thấy "Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng-Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ". Sự xuất hiện của mặt trời trên lăng là hình ảnh thực của thiên nhiên vũ trụ tỏa sáng ngày ngày đem lại sức sống cho muôn loài, là mặt trời vĩnh hằng tồn tại cùng thời gian, sự sống. Nhưng bằng sự quan sát liên tưởng, nhà thơ đã bắt gặp một hình ảnh mặt trời khác, đó chính là Bác Hồ. Nghệ thuật ẩn dụ Bác là mặt trời đem lại độc lập tự do, mang lại ánh sáng về cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân. Bác là mặt trời cách mạng mãi mãi chiếu sáng trên đường chúng ta đi. Người và lý tưởng cách mạng sẽ mãi mãi là vĩnh hằng, bất tử.

Thật ra, so sánh Bác với hình ảnh mặt trời đã có người viết. Với Lưu Hữu Phước: "Hồ Chí Minh-ánh thái dương tỏa sáng đời đời", Tố Hữu cũng đã từng ca ngợi:

Người rực rỡ một mặt trời cách mạng 

Mà đế quốc là loài rơi hốt hoảng 

Đêm tàn bay chập choạng dưới chân Người.

Nhưng cách so sánh ngầm Bác nằm trong lăng như một mặt trời rất đỏ trong cái nhìn đầy ngưỡng mộ của nhà thơ Viễn Phương là một sáng tạo mới mẻ và độc đáo. Cùng với hình ảnh "Mặt trời ngày ngày đi qua trên lăng" là:

Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ 

Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân.

Loading...

Hình ảnh dòng người đi trong không gian đặc biệt "thương nhớ" từ từ, chầm chậm xếp thành những hàng dài vô tận khiến nhà thơ so sánh liên tưởng đó là những "tràng hoa", là những bông hoa tươi thắm, là tình cảm chân thành nhớ thương kết dâng lên "bảy mươi chín mùa xuân". Nghệ thuật hoán dụ mang ý nghĩa tượng trưng, cuộc đời của Bác là một cuộc đời đẹp đẽ như mùa xuân và làm ra những mùa xuân cho đất nước. Vào lăng viếng Bác là một công việc diễn ra bình thường, đều đặn trong cuộc sống của người dân Việt Nam. Nhà thơ khẳng định sự thủy chung son sắt của mình, của nhân dân,của đất nước đối với Hồ Chí Minh-vị lãnh tụ kính yêu.

Lòng thương tiếc khôn nguôi đối với Bác tiếp tục được khắc sâu trong khổ thơ tiếp theo:

Bác nằm trong lăng giấc ngủ bình yên

Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền 

Vẫn biết trời xanh là mãi mãi

Mà sao nghe nhói ở trong tim!

Nếu hai khổ thơ trên, tác giả đứng ở ngoài lăng thì ở khổ thơ này, vị trí quan sát của nhà thơ đã thay đổi về không gian. Tác giả vào trong lăng và được chứng kiến:

Bác nằm trong lăng giấc ngủ bình yên 

Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền 

Trong tâm tưởng của nhà thơ vẫn nghĩ rằng, đây là lúc Bác được nghỉ ngơi thanh thản sau bao năm cống hiến, hi sinh vì dân vì nước. Bác đã nằm trong một giấc ngủ bình yên giữa ánh sáng của vầng trăng. Bác và vầng trăng như đang hòa quyện về tâm hồn bởi lúc sinh thời, Bác với trăng là người bạn tri âm tri kỉ. Nhưng có bao giờ Bác được thảnh thơi để đến với trăng đâu, chỉ có bây giờ trong giấc ngủ này Bác mới cùng trăng được bầu bạn gắn bó. Bác nằm trong giấc ngủ ngàn thu ấy là một sự thật không thể chối cãi được, Bác của chúng ta đã ra đi thật rồi, không còn nữa:

Vẫn biết trời xanh là mãi mãi 

Mà sao nghe nhói ở trong tim!

Từ "nhói" mang một nỗi đau đột ngột, nỗi đau quặn thắt, nỗi đau tinh thần,là tính từ mạnh có sức biểu cảm cao, trực tiếp bộc lộ tình cảm của nhà thơ, niềm tiếc thương vô hạn của người con khi mất đi người cha. Nỗi đau ấy không gì bù đắp được. Câu thơ thổn thức tiếng lòng của Viễn Phương trước sự ra đi của Người.

Có nhiều nhà thơ đã diễn tả nỗi đau, sự mất mát to lớn này:

Bác đã đi rồi sao Bác ơi

Mùa thu đang đẹp nắng xanh trời

Miền Nam đang thắng mơ ngày hội

Rước Bác vào thăm thấy Bác cười.

Hay:

Suốt mấy hôm rày đau tiễn đưa

Đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa

Hôm nay con chạy về thăm Bác

Ướt lạnh vườn rau mấy gốc dừa.

Khổ thơ cuối cùng có sự lặp lại với khổ thơ đầu,đều nhắc đến địa danh miền Nam, đều có hình ảnh cây tre. Sự lặp lại như vậy nhằm hoàn tất một cuộc hành hương về cội nguồn. Trở về nơi đã ra đi từ nơi vừa đến là nước mắt tràn ngập hàng mi. Hàng tre đã trở thành biểu tượng của con người: Con người trung hiếu. Cuối cùng dẫu xót xa đến mấy, cuộc ly biệt cũng phải xảy ra,Viễn Phương trở về với cảm giác thật, với nỗi đau mất Bác: "Mai về miền Nam thương trào nước mắt". Một tiếng thương của người miền Nam là trọn vẹn tình cảm của mình đối với Bác, thương ấy là yêu, là kính trọng. Cả cuộc đời của Người dành hết cho dân cho nước. Cùng với niềm thương trào nước mắt ấy, những lời lẽ tự nguyện cũng trùng điệp dâng lên đầy ắp tâm trí. Điệp ngữ "muốn làm" diễn tả trạng thái xúc động mãnh liệt đang dâng lên trong lòng người con sắp trở về miền Nam, từ biệt nơi có người cha già yên nghỉ:

Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác

Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây

Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này.

Chân bước đi mà mặt còn ngoảnh lại,không muốn rời xa. Một sức mạnh vô hình nhưng mãnh liệt níu kéo lòng ta ở lại. Ước chi ta có thể biến thành những gì thân yêu quanh nơi Bác ngủ để mãi mãi được chiêm ngưỡng tâm hồn Bác, để bày tỏ lòng ta với Bác. Một con chim nhỏ góp tiếng hót vui những bình minh của Bác, một đóa hoa góp hương thơm làm đẹp không gian của Bác, một cây tre trong hàng tre xanh xanh tỏa bóng mát dịu dàng bên lăng Bác. Nhưng nhà thơ không thể mong ước gì hơn,sự thật là cuộc chia ly phải xảy ra. Câu thơ trầm xuống để kết thúc, ngừng lặng hoàn toàn.

Bài thơ kết thúc bằng những tâm sự của nhà thơ. Một nỗi thương tiếc bâng khuâng, những nỗi niềm tự nguyện về cuộc đời mình để xứng đáng với con người khiêm nhường và vĩ đại, người thầy, người cha, người Bác, vị lãnh tụ đã sống cuộc đời tột bậc vẻ vang của con người, cho con người.

"Viếng lăng Bác" là một trong những bài thơ viết muộn màng sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, sau hàng nghìn bài thơ đã viết về nỗi đau mất Bác. Thế nhưng bài thơ vẫn tìm cho mình một tiếng nói mới. Cái mới xuất phát từ tấm lòng chân thành của nhà thơ. Nguyên nhân tạo nên thành công của bài thơ cũng chính là điều đó. Thế đấy, văn chương là chữ nghĩa nhưng trước hết là tấm lòng.

>> XEM THÊM: Soạn bài Viếng Lăng Bác của Viễn Phương

Please follow and like us:
Loading...

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Social media & sharing icons powered by UltimatelySocial