Home / SOẠN BÀI / Soạn Bài Làng Ngắn Gọn Của Tác Giả Kim Lân | Văn Mẫu Lớp 8

Soạn Bài Làng Ngắn Gọn Của Tác Giả Kim Lân | Văn Mẫu Lớp 8

Đề bài: Soạn Bài Làng Ngắn Gọn Của Tác Giả Kim Lân 

BÀI LÀM

I. Kiến thức cơ bản

1. Nét chính về tác giả, tác phẩm 

– Nhà văn Kim Lân tên khai sinh là Nguyễn Văn Tài, sinh năm 1920, quê ở Từ Sơn-Bắc Ninh. Ông là nhà văn chuyên viết truyện ngắn từ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945. Thế giới nghệ thuật trong tác phẩm của Kim Lân là khung cảnh nông thôn và hình tượng người nông dân lam lũ, vất vả, nghèo khó nhưng giàu lòng nhân hậu và yêu nước.

– Các tác phẩm chính của ông: Nên vợ nên chồng (tập truyện ngắn, 1955), Con chó xấu xí (truyện ngắn, 1962), Vợ nhặt (tập truyện ngắn, 1983). Trong đó "Làng" và "Vợ nhặt" xứng đáng là những tác phẩm xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại.

– Hoàn cảnh sáng tác: Truyện ngắn "Làng" được viết vào thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, đăng lần đầu trên Tạp chí Văn nghệ năm 1948. Truyện diễn tả chân thực và sinh động tình yêu làng, yêu quê hương, đất nước và tinh thần kháng chiến của nhân vật ông Hai.

2. Tóm tắt tác phẩm 

Truyện ngắn "Làng" của Kim Lân viết năm 1948, trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Truyện kể về ông Hai rất yêu làng, yêu nước. Ông Hai phải đi tản cư nhưng ông rất nhớ làng. Ông thường tự hào và khoe về làng Chợ Dầu giàu đẹp của mình, nhất là tinh thần kháng chiến và chính ông là một công dân tích cực.

Ở nơi tản cư, đang vui với tin chiến thắng của ta, bất chợt ông Hai nghe tin dữ về làng Chợ Dầu Việt gian theo Tây. Ông cụt hứng, đau khổ, xấu hổ. Ông buồn chán, lo sợ suốt mấy ngày và chẳng dám đi đâu, càng bế tắc hơn khi mụ chủ nhà bóng gió đuổi gia đình ông đi vì là người của làng Việt gian. Ông chỉ biết trút bầu tâm sự cùng với đứa con trai bé bỏng như nói với chính lòng mình: theo kháng chiến, theo cụ Hồ, chứ không theo giặc, còn làng theo giặc thì phải thù làng.

Nhưng thật may, nghe được cái tin cải chính làng Dầu không theo Tây, lòng ông phơi phới trở lại. Ông khoe với mọi người nhà ông bị Tây đốt sạch, làng Dầu bị đốt nhẵn. Ông khoe và tự hào về làng như chính mình vừa tham gia trận đánh vậy.
soan bai lang

II. Trả lời câu hỏi trong SGK

Câu 1

Sự hấp dẫn của truyện ngắn là nghệ thuật xây dựng tình huống độc đáo, bất ngờ. Nếu coi tình huống là một sự kiện có ý nghĩa bộc lộ mối quan hệ, bộc lộ khả năng ứng xử, bộc lộ phẩm chất, tính cách nhân vật thì truyện ngắn "Làng" của Kim Lân đã xây dựng được tình huống như thế. Tác giả đã đặt ông Hai vào tình huống bất ngờ, gay gắt để bộc lộ sâu sắc tình cảm của nhân vật. Đó là tình huống ông Hai nghe được tin làng Chợ Dầu-quê ông, theo giặc, lập tề.

Cái tin đó đã làm cho ông từ đỉnh cao của niềm vui, niềm tin, niềm tự hào về làng quê của mình bị rớt xuống vực thẳm của sự đau xót, tủi hổ, day dứt, bế tắc. Từ chỗ ông rất yêu làng bỗng trở nên thù làng. Với ông Hai, nếu làng Dầu đi theo Tây thật đi chăng nữa thì ông vẫn ủng hộ kháng chiến và lòng yêu đất nước không hề vơi cạn.

Tình huống đã làm bộc lộ chủ đề của tác phẩm: diễn tả chân thực và sâu sắc tình yêu làng quê, yêu đất nước và tinh thần kháng chiến của ông Hai-tiêu biểu cho người nông dân phải dời làng tản cư thời kỳ đó.

Câu 2:

Diễn biến tâm trạng và hành động của ông Hai từ lúc nghe tin làng mình theo giặc 

Tin quá đột ngột ấy chẳng khác nào gáo nước lạnh dội vào ngọn lửa đang cháy bừng bừng, khiến ông sững sờ : "cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân. Ông lặng đi, tưởng như đến không thở được". 

Khi trấn tĩnh lại, ông cố gắng hỏi để hi vọng cái tin ấy là không đúng sự thật. Nhưng những người đưa tin lại kể rành rọt quá và khẳng định vừa từ dưới ấy lên, nên ông không thể không tin. Từ lúc ấy, tâm trạng ông Hai rơi vào trạng thái tủi hổ, đau đớn, ngày càng nặng nề. Trước kia ông càng yêu, càng tự hào về cái làng Chợ Dầu bao nhiêu thì nay lại càng đau đớn, tủi hổ bấy nhiêu. Ông tìm cách lảng về, cố ra vẻ bình thản để che dấu tâm trạng nhưng nỗi tủi hổ khiến "ông cúi gằm mặt xuống mà đi", tai vẫn còn nghe văng vẳng tiếng chửi theo "giống Việt gian bán nước".

Loading...

Về đến nhà, ông nằm vật ra giường, nhìn đàn con mà tủi, nước mắt trào ra. Cái tin làng theo giặc cứ ám ảnh bám riết, khiến tâm tư ông nặng nề, day dứt, đau khổ. Suốt mấy ngày ông chẳng dám đi đâu, chỉ quẩn quanh trong gian nhà, nghe ngóng tình hình. Giống như người có tật giật mình, lúc nào ông cũng nơm nớp lo sợ như người ta đang để ý, đang bàn tán đến chuyện ấy. Ông Hai thấy mình như có lỗi trong việc làng Dầu theo Tây, phản bội kháng chiến. Ông mặc cảm, thu mình trong nỗi đau xót, tủi hổ, trằn trọc không ngủ, không muốn nói năng gì.

Không khí u ám bao trùm cả gia đình, từ ông Hai, bà Hai đến lũ trẻ đều sống trong tâm trạng nặng nề, nơm nớp, không dám nói to, trẻ không dám đùa, không dám vòi quà. Lòng tự hào về làng của ông đã bị tổn thương. Tình thế đẩy ông Hai càng khốn đốn và bế tắc hơn khi mụ chủ nhà đánh tiếng không cho gia đình ông ở nhờ nữa. Ông Hai biết đi đâu, càng không thể quay về làng. Trong tâm trạng, cuộc xung đột diễn ra gay gắt và ông kiên quyết: "Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù".

Câu 3:

Trong đoạn ông Hai trò chuyện với đứa con út bộc lộ một cách cảm động tâm trạng của ông Hai về tình yêu sâu nặng với cái làng Chợ Dầu của ông, tấm lòng thủy chung của ông đối với kháng chiến, với cụ Hồ.

Bị dồn nén đến bế tắc, tuyệt vọng, ông chỉ còn biết trút tâm sự cùng đứa con nhỏ. Đoạn văn ông đối thoại với con thật cảm động, bộc lộ tấm lòng sâu xa, bền chặt gắn bó với quê hương, đất nước. Nói với con nhưng thực chất là ông tự nói với lòng mình, tự giãi bày, tự minh oan. Lời của đứa con là tiếng lòng của ông. Ông mong kháng chiến và cụ Hồ hiểu được tấm lòng của bố con ông. Lời tâm sự như một lời thề, khẳng định sắt đá tình yêu làng, yêu nước sâu nặng, bền vững, thiêng liêng của ông Hai.

Câu 4:

Góp phần vào sự thành công của truyện ngắn "Làng" là nghệ thuật xây dựng tình huống, nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật và nét đặc sắc của ngôn ngữ nghệ thuật.

– Tác phẩm thuộc cốt truyện tâm lí, nhà văn không xây dựng trên các biến cố và sự kiện bên ngoài mà chú trọng đến tình huống bên trong nội tâm nhân vật, miêu tả các diễn biến tâm lí, từ đó làm nổi rõ tính cách nhân vật và chủ đề tác phẩm.

+ Tình huống truyện gay cấn, thử thách nội tâm nhân vật, làm bộc lộ chiều sâu đời sống bên trong, tình cảm, tư tưởng của nhân vật.

+ Miêu tả tâm lí nhân vật vừa cụ thể vừa sâu sắc, tinh tế: từ biểu hiện bên ngoài đến diễn biến nội tâm qua ý nghĩ, hành vi, ngôn ngữ, những day dứt, đau khổ, ám ảnh, vui sướng…Chứng tỏ Kim Lân là người rất am hiểu thế giới nội tâm nhân vật của mình, đặc biệt là tâm lí người nông dân.

– Sử dụng ngôn ngữ đặc sắc, nhất là ngôn ngữ của ông Hai. Ngôn ngữ mang đậm chất khẩu ngữ và lời ăn tiếng nói của người nông dân vùng quê. Lời trần thuật của tác giả và lời nhân vật có sự thống nhất về sắc thái, giọng điệu bởi truyện trần thuật chủ yếu từ điểm nhìn của ông Hai. Vì vậy, đến với tác phẩm, người đọc có cảm giác gần gũi với ngôn ngữ và đời sống hằng ngày của chính họ, nó thân thiết, dí dỏm, đôn hậu khiến người ta yêu thích.

III. Tổng kết 

"Làng" là truyện ngắn đặc sắc đã đề cập tới tình cảm lớn lao, bao trùm, phổ biến của người nông dân Việt Nam thời kháng chiến chống Pháp, đó là tình yêu làng, yêu quê hương, đất nước. Kim Lân đã rất thành công trong việc miêu tả tâm trạng, tâm lí của nhân vật ông Hai- một nét tâm lí tiêu biểu của quần chúng nhân dân lúc bấy giờ. Nhà văn vốn rất am hiểu và gần gũi với nhân vật của mình, ông để họ được nói năng, suy nghĩ, hành động một cách tự nhiên mà bộc lộ được tâm lí, tính cách sinh động, khiến người đọc cảm động, yêu mến và khâm phục biết bao những người nông dân bình dị, chất phác mà tấm lòng yêu nước thiết tha, cao cả. Nhân vật ông Hai hay cũng chính là bóng dáng, là tâm tư, tình cảm, tấc lòng của nhà văn gửi tới làng quê, đất nước yêu dấu của mình.

>> XEM THÊM: Phân tích nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng

Spread the love
Loading...

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *