Home / SOẠN BÀI / Soạn Bài Quê Hương Ngữ Văn 8 | Tế Hanh

Soạn Bài Quê Hương Ngữ Văn 8 | Tế Hanh

Đề bài: Soạn Bài Quê Hương Ngữ Văn 8 | Tế Hanh

BÀI LÀM

I. Kiến thức cơ bản về tác giả, tác phẩm 

>> XEM THÊM: Cảm Nhận Bài Thơ Quê Hương

– Tế Hanh tên thật là Trần Tế Hanh, sinh năm 1921 tại một làng chài ven biển, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Ông xuất hiện trên thi đàn vào những năm cuối của phong trào Thơ mới. Năm 1939, khi mới 18 tuổi, với tập thơ đầu tay "Nghẹn ngào", ông được nhận giải thưởng khuyến khích của Tự lực văn đoàn. Sau Cách mạng tháng Tám, ông làm công tác văn nghệ, tiếp tục sáng tác và dịch thơ. Thơ ông rất dung dị, đằm thắm yêu thương và thành công hơn cả là khi viết về quê hương, viết về những kỉ niệm tuổi thơ, về nỗi nhớ cách xa và tình yêu trong sáng.

– Tác phẩm chính: Nghẹn ngào (1939), Hoa niên (1944), Lòng miền Nam (1956), Gửi miền Bắc (1958), Tiếng sóng (1960), Hai nửa yêu thương (1963), Khúc ca mới (1966)… 

Năm 1996, ông được nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.

Hơn 60 năm làm thơ, Tế Hanh nặng lòng với quê hương. Ông có nhiều bài thơ đặc sắc về đề tài này mà "Quê hương" (1939) là một trong những bài thơ tiêu biểu.

soan bai que huong

II. Trả lời câu hỏi trong SGK

Câu 1.

Câu thơ thứ 3 tới câu thơ thứ 8 miêu tả cảnh trai tráng bơi thuyền đi đánh cá vào một buổi "sớm mai hồng" rộng rãi, khoáng đạt.

– Cảnh dân chài bơi thuyền ra khơi:

" Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng

                      (………)

  Rướn thân trắng bao la thâu góp gió "

+ hai câu thơ đầu đã mở ra cảnh tượng bầu trời cao rộng, trong trẻo, nhuốm nắng hồng bình minh.

+ trên đó, nổi bật lên hình ảnh con thuyền băng mình ra khơi. Hình ảnh so sánh "con tuấn mã" và một loạt từ ngữ như "băng", "phăng", "vượt"…diễn tả đầy ấn tượng khí thế băng tới dũng mãnh của con thuyền ra khơi, toát lên một sức sống mạnh mẽ, một vẻ đẹp hùng tráng bất ngờ. 

+ hình ảnh cánh buồm trắng căng gió biển khơi quen thuộc bỗng trở nên lớn lao, thiêng liêng, vừa thơ mộng vừa hùng tráng. Tế Hanh như nhận ra đó chính là biểu tượng của linh hồn làng chài.

– Cảnh đón thuyền cá về bến sau một ngày lao động:

" Ngày hôm sau ồn ào trên bến đỗ

                       (……….)

  Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ "

+ cảnh ồn ào, tấp nập trên bến đón thuyền cá trở về, một bức tranh lao động đầy náo nhiệt, đầy ắp niềm vui và sự sống. 

+ hình ảnh người dân chài "dân chài lưới làn da ngăm rám nắng" là tả thực, câu sau là sáng tạo độc đáo, gợi tả, rất thú vị: "cả thân hình nồng thở vị xa xăm". Hình ảnh người dân chài vừa chân thực, vừa lãng mạn và trở nên có tầm vóc.

+ hình ảnh con thuyền nằm im trên bến sau khi vật lộn với sóng gió trở về. Tác giả không chỉ thấy con thuyền đang nằm im trên bến mà còn thấy sự mệt mỏi say sưa của con thuyền. Tác giả còn cảm thấy con thuyền ấy như đang lắng nghe "chất muối thấm dần trong thớ vỏ" của nó.

Câu 2.

Phân tích một số câu thơ sử dụng biện pháp so sánh và ẩn dụ:

Loading...

"Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng

Rướn thân trắng bao la thâu góp gió"

Cánh buồm vô tri đã được người thi sĩ thổi vào một tâm hồn. Đó chính là cái hồn thiêng liêng (trong tâm khảm nhà thơ) của ngôi làng ấy. Nhà thơ đã lấy cái đặc trưng nhất (những cánh buồm) để mà gợi ra bao ước mơ, khao khát về một cuộc sống ấm no, đủ đầy. Câu thơ sau thậm chí còn có "hồn" hơn. Thuyền không phải tự ra khơi mà đang "rướn" mình ra biển cả. Hình ảnh thơ đẹp và thi vị biết bao!

"Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng

 Cả thân hình nồng thở vị xa xăm"

Hai câu thơ là một bức tranh vẽ phác về hình ảnh dân chài. Đó là những con người dường như được sinh ra từ biển. Cuộc sống biển khơi, dãi dầu mưa nắng làm cho làn da ngăm "rám nắng", trong cả "hơi thở" của thân hình cũng là hương vị xa xăm của biển. Hai câu thơ không chỉ là sự miêu tả đơn thuần mà nó là sự cảm nhận bằng cả tâm hồn sâu sắc với quê hương. 

Câu 3.

Để vẽ ra một bức tranh làng quê miền biển khỏe khoắn, đặc biệt khắc họa chân thực và sinh động hình ảnh người dân làng chài cũng như sinh hoạt lao động của làng chài, như vậy, rõ ràng Tế Hanh phải có một tâm hồn tinh tế và tài hoa, một tấm lòng gắn bó sâu nặng với quê hương, một nỗi nhớ thương da diết, nồng hậu về vùng quê sông nước bao la đó.

Câu 4.

Nét đặc sắc nghệ thuật nổi bật nhất của bài thơ này là sự sáng tạo các hình ảnh thơ. Bài thơ cho thấy một sự thái quát tinh tế, một sự cảm nhận và miêu tả sắc sảo. Hình ảnh thơ phong phú, vừa chân thực, vừa bay bổng và lãng mạn, khiến cho bài thơ rất có hồn và tràn đầy thi vị. Bài thơ sử dụng kết hợp phương thức miêu tả và biểu cảm nhưng yếu tố miêu tả chủ yếu nhằm phục vụ cho biểu cảm, trữ tình. Nhờ sự kết hợp này mà hình ảnh thơ vừa lột tả được chân thực, tinh tế cảnh vật và con người của cuộc sống miền biển, vừa thể hiện sâu sắc những rung động của tâm hồn nhà thơ. Đặc biệt, tác giả đã sử dụng rất nhuần nhị thể thơ 8 tiếng khiến cho mạch thơ tuôn chảy, ngân vang tình quê theo từng câu chữ.

III. Tổng kết

"Quê hương" là bức tranh tuyệt đẹp về cuộc sống lao động của một làng quê ven biển: một bức tranh tươi sáng, sinh động hiện ra với những cảnh sắc thiên nhiên bình dị, đầy ắp niềm vui trong một ngày lao động phấn chấn. Và thấm đượm trong bức tranh quê hương bình dị, đáng yêu ấy là tình yêu quê hương trong sáng, thiết tha của nhà thơ.

>> XEM THÊM: Phân tích bài thơ Quê hương của Tế Hanh

Please follow and like us:
Loading...

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Social media & sharing icons powered by UltimatelySocial