Home / SOẠN BÀI / Soạn Bài Ca Dao Hài Hước | Tài Liệu Văn Mẫu Lớp 10

Soạn Bài Ca Dao Hài Hước | Tài Liệu Văn Mẫu Lớp 10

Đề bài: Soạn Bài Ca Dao Hài Hước | Tài Liệu Văn Mẫu Lớp 10

BÀI LÀM

HƯỚNG DẪN HỌC BÀI     

Câu 1.

Bài 1.

Đây là lời đối đáp vui đùa của nam nữ thường thấy trong ca dao. Nó đem đến cho ta một tiếng cười mang ý nghĩa nhân sinh sâu sắc.

  • Việc dẫn cưới và thách cưới ở đây được chốt hạ lại trong hai câu ca dao cuối:

“Miễn là có thú bốn chân

Dẫn con chuột béo, mời dân, mời làng”

Cưới xin là chuyện hệ trọng của cả một đời người. Và phong tục thách cưới là truyền thống của người dân Việt Nam trong việc cưới xin. Thường lễ vật là những thứ cao sang như voi, như trâu, như bò đubs như lời chàng trai đã nói. Nhưng sự thật là hoàn cảnh khó khăn không thể có được những thứ ấy nên chàng trai khéo léo đưa ra những nguyên nhân khách quan khiến mình chọn con chuột béo, mời dân, mời làng.

Lời đáp lại của cô gái cũng rất ý nhị, sâu sắc và chân thật:

“Nhà em thách cưới một nhà khoai lang”

ca dao hai huoc

Đáp lại sính lễ là con chuột béo của chàng trai, cô gái cũng bày tỏ sự cảm thông của mình qua lời thách cưới rất hài hước nhưng chân chất, thật thà: một nhà khoai lang.

Cô gái và chàng trai trong câu ca dao chỉ là một trong những chủ thể trữ tình mà dân gian muốn gửi gắm tâm tư, tình cảm của mình vào đó. Họ sống khắc khổ, khó khăn, nhưng luôn lạc quan yêu đời. Đặc biệt, tình yêu của họ cũng rất giản dị, đơn sơ, không đòi hỏi mĩ miều mà vẫn hạnh phúc, khăng khít.

Loading...
  • Bài ca dao có giọng điệu hài hước, dí dỏm, đáng yêu nhờ biện pháp nghệ thuật đối lập, liệt kê, so sánh khi chàng trai kể ra những vật sính lễ trọng đại của lễ cưới. Đồng thời kết hợp nghệ thuật tương xứng trong lời đáp của cô gái tạo nên một âm hưởng hài hòa, vui vẻ.

Câu 2.

Trong các bài 2,3,4 chủ đề không còn là tiếng cười hóm hỉnh, yêu thương về tình cảm lứa đôi, tình cảm gia đình nữa mà là sự cười chê, chỉ trích một cách nhẹ nhàng mà thâm túy đến những kẻ lười biếng, có nhiều thói hư tật xấu trong xã hội.

  • Đối tượng hướng đến: Những kẻ lười biếng, nhát gan, có nhiều tật xấu trong xã hội.
  • Mục đích: Phê phán, châm biếm với thái độ chỉ trích, lên án.

Trong những cái chung đó, mội bài lại có nét riêng thể hiện nghệ thuật trào lộng sắc sảo của người bình dân.

  • Trong bài đầu tiên hình ảnh người đàn ông “Khom lưng chống gối gánh hai hạt vừng” vừa gây cười vừa gợi lên hình ảnh những kẻ lười nhác, yếu đuối.
  • “Chồng em ngồi bếp sờ đuôi con mèo” – thêm một hình ảnh hèn nhát về người đàn ông không có bản lĩnh.
  • “Lỗ mũi mười tám gánh lông”, “Đêm nằm thì ngáy o o …” Tất cả những hình ảnh ấy đều ám chỉ những thói hư tật xấu trong xã hội của những con người đỏng đảnh, vô duyên (ở đây ám chỉ phụ nữ).

Như vậy, bằng những lời lẽ châm biếm, hài hước, bài ca dao đã thể hiện một cách thâm túy và sâu sắc đến những kẻ hèn nhát, yếu đuối, nhu nhược trong xã hội.

Câu 3.

Những biện pháp nghệ thuật thường được sử dụng trong cau dao hài hước:

  • So sánh, hoán dụ
  • Trào lộng mà sâu sắc
  • Lấy cái bao quát để tả cái cụ thể và ngược lại
  • Ngôn ngữ giàu nhạc điệu, vần nhịp
  • Từ ngữ giản dị, hình ảnh gần gũi, dễ hiểu.

>> XEM THÊM: Tài Liệu Văn Mẫu

Spread the love
Loading...

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *