Home / VĂN MẪU THPT / Văn mẫu lớp 11 / Phân Tích Bài Thơ Đây Mùa Thu Tới Của Xuân Diệu

Phân Tích Bài Thơ Đây Mùa Thu Tới Của Xuân Diệu

Đề bài: Phân Tích Bài Thơ Đây Mùa Thu Tới Của Xuân Diệu

BÀI LÀM

Xuân Diệu là một nghệ sĩ lớn, một nhà văn hoá lớn của dân tộc. Trong sự nghiệp sáng tác thơ văn của mình, Xuân Diệu được biết đến như là một nhà thơ lãng mạn trữ tình, "nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới". Ông để lại cho đời rất nhiều các tác phẩm hay có giá trị sâu sắc, trong đó phải kể đến bài thơ “ Đây mùa thu tới” năm 1938.

>> XEM THÊM: Bình giảng bài thơ Đây mùa thu tới của Xuân Diệu

“Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang, 
Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng; 
Đây mùa thu tới – mùa thu tới 
Với áo mơ phai dệt lá vàng. 

Hơn một loài hoa đã rụng cành 
Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh; 
Những luồng run rẩy rung rinh lá… 
Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh. 

Thỉnh thoảng nàng trăng tự ngẩn ngơ… 
Non xa khởi sự nhạt sương mờ… 
Đã nghe rét mướt luồn trong gió… 
Đã vắng người sang những chuyến đò… 

Mây vẩn từng không, chim bay đi, 
Khí trời u uất hận chia ly. 
Ít nhiều thiếu nữ buồn không nói 
Tựa cửa nhìn xa, nghĩ ngợi gì.”

Đây là bài thơ nổi tiếng được in trong tập thơ “Thơ thơ” của Xuân Diệu. Từng câu thơ đều mang một nét rất riêng, tiêu biểu cho hồn thơ Xuân Diệu. Cảm hứng được lấy từ niềm mong muốn khát khao được hoà mình vào với thiên nhiên, với cuộc đời đã làm nên một tác phẩm ấn tượng khó quên. Cùng đọc và cảm nhận bài thơ, chúng ta sẽ thấu hiểu rõ hơn về hồn thơ Xuân Diệu- một nét đẹp rất riêng rất khác:

“Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang
Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng
Đây mùa thu tới mùa thu tới
Với áo mơ phai dệt lá vàng”


bai tho day mua thu toi

Viết về mùa thu, không ít các tác giả đã phải tốn giấy mực để lột tả cái đẹp của tiết trời se se lạnh, của từng cơn gió nhẹ với mùi hương hoa cúc vàng… Thế nhưng trong thơ Xuân Diệu, chúng ta bắt gặp trời thu với hình ảnh mới: hình ảnh của cành liễu buông rủ xuống mặt hồ. Đây là một ý thơ rất đẹp, rất buồn, nhưng cũng đầy mới lạ. Hình ảnh của rặng liễu mong manh được nhân hoá như hình ảnh của cô gái nhỏ bé bên hồ với một nét buồn rất đẹp, rất lạ. Dường như những cành liễu buồn thiu đang nhỏ những giọt lệ sầu xuống mặt hồ mùa thu trong vắt, cứ nhẹ nhàng nhẹ nhàng như thế. Không gian hiện lên không quá ồn áo, không quá phô trương nhưng vẫn khắc hoạ rất chi tiết cảnh sắc trời thu đã giao mùa.

“Hơn một loài hoa đã rụng cành
Trong vườn sắc đỏ rủa màu xanh
Những luồng run rẩy rung rinh lá
Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh”

Đến khổ thơ tiếp theo, mùa thu được miêu tả bằng những biểu hiện sinh động, rõ ràng. Mùa thu là mùa của sắc vàng lên ngôi, là mùa của những phai tàn và thay lá. Trong bức tranh thiên nhiên mùa thu ấy, đã có “hơn một” loại hoa lìa khỏi cành của nó, rơi rụng đầy những gốc cây hanh khô. Tác giả sử dụng từ ngữ rất  đặc biệt, bởi lẽ những loài hoa ở đây lìa cành không phải dăm bảy loài hoa, chẳng phải hai ba loại hoa, mà là “hơn một” loài hoa. Con số không chính xác, nhưng chắc chắn là nhiều hơn một. Điều này khiến câu thơ trở nên khác lạ, cuốn hút mạnh mẽ. Dường như nhà thơ vẫn còn lưu luyến màu xanh, còn “chùng chình” chưa muốn bước vội sang một mùa chuẩn bị thay lá. Những cánh hoa rơi rụng cho ta cảm giác tiếc nuối, bâng khuâng về một thời rực rỡ muôn màu.

Loading...

Cái lạnh se se của mùa thu được ẩn dụ trong hành động “run rẩy” của cành lá. Chỉ bằng những nét chấm phá nhẹ nhàng, nhà thơ đã vẽ lên một bức tranh mùa thu với những đặc trưng rất thật, rất thơ.

“Thỉnh thoảng nàng trăng tự ngẩn ngơ
Non xa khởi sự nhạt sương mờ
Đã nghe rét mướt luồn trong gió
Đã vắng người sang những chuyến đò”

Xuân Diệu đã ví trăng như một mỹ nữ kiều diễm, đang ngẩn ngơ ngơ ngác khi thấy mọi thứ hình như đang chuyển mình đổi khác. Đây là một sự ví von đậm chất nghệ sĩ, tài hoa và đáng khâm phục. Trời thu với sự xuất hiện của sương sớm mờ mờ ảo ảo, lan tràn trên những ngọn núi xa xa thành khói sương mờ nhạt không gian. Ta có thể cảm nhận dường như khí lạnh se se đang luồn lách trong từng câu thơ, lan toả trên trang sách như khung cảnh trời thu của Xuân Diệu đang viết. Nhà thơ “nghe” thấy cái ẩm ướt, cái rét mướt đang luồn lách trong gió thu. Dường như tác giả chạm được vào những luồng gió thu ấy, chuyển đổi từ thính giác sang cảm giác để thấy được thu đang thấm vào chính con người nhà thơ. Nhà thơ đã cho thấy sự xuất hiện của con người trên song, nhưng sự vắng vẻ thưa thớt của những chuyến đò càng làm cho cảnh vật thêm phần yên tĩnh và lạnh hơn. Biện pháp nghệ thuật đảo ngữ trong câu thơ: “Đã vắng người sang những chuyến đò” cho thấy sự vắng vẻ và thưa thớt, dường như mùa thu đã chính thức chạm ngõ,khiến mọi thứ dần mờ nhạt phai tàn.

“ Mây vẩn tầng không chim bay đi
Khí trời u uất hận chia ly
Ít nhiều thiếu nữ buồn không nói
Tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì”

Bức tranh mùa thu không chỉ còn là vắng vẻ yên tĩnh nữa mà lúc này lại mang nặng nôĩ buồn, sự uất hận chia ly. Cánh chim mỏi mệt bay đi tránh rét để lại nỗi buồn chia ly đầy ắp khung trời. nỗi buồn ấy dâng lên đến u uất nghẹn ngào, như chính giọt nước mắt của cô gái ở khổ thơ đầu tiên. Nỗi buồn không rõ ràng, không nhìn thấy chính xác nhưng lại man mác lây lan sang cả đất trời, cảnh vật. Dường như những tâm tư, xúc cảm của Xuân Diệu được ông gửi gắm hết vào trong từng ý thơ, nhờ câu thơ nói hộ long mình.

Như vậy, “Đây mùa thu tới” của Xuân Diệu là một bức tranh cảh thu đẹp dịu dàng và mang một nỗi buồn man mác chia ly. Lời thơ bình dị với tình cảm chân thành đã tạo nên những ý thơ hết sức chân thực sâu sắc.

Please follow and like us:
Loading...

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Social media & sharing icons powered by UltimatelySocial