Home / VĂN MẪU THPT / Văn mẫu lớp 10 / Phân tích Bài phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu

Phân tích Bài phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu

(Văn mẫu lớp 10) – Em hãy phân tích Bài phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu. (Bài phân tích của bạn Nguyễn Phúc Cường).

Đề bài: Phân tích Bài phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu

BÀI LÀM

Trong lịch sử văn học nghệ thuật Việt Nam, phổ thông địa danh của quốc gia đã phát triển thành những để tài hấp dẫn vì đã ghi dấu các chiến công vĩ đại như Hàm Tử, Chi Lăng, Đống Đa, Sông Lô v.v… Nhưng gợi phổ thông cảm hứng nhất có nhẽ phải kể tới sông Bạch Đằng lịch sử – nơi đã từng diễn ra những trận đánh quyết liệt chồng quân xâm lược phương Bắc. Tại đây, Ngô Quyển đã đánh thắng quân Nam Hán, Lê Hoàn quét sạch quân nhà Tống; è cổ Hưng Đạo nhấn chìm đại quân Nguyên Mông. vì vậy, chỉ kể riêng trong lịch sử văn học thời trung đại mang phổ thông cây bút danh tiếng như trằn Minh Tông, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trãi, Nguyễn Mộng Tuân… Đều viết về nó. Nhưng thành công hơn cả là Trương Hán Siêu với Bài phú sông Bạch Đằng. Tác phẩm này trong khoảng lâu đã được đánh giá là bài phú nổi danh nhất ở đời è cổ và cũng là 1 trong số ít bài phú lý tưởng nhất của văn chương trung đại.


Đây là 1 bài phú với thể (hoặc còn gọi là phú lưu thủy), ko tuân theo niêm luật chặt chẽ của nhường phú (hay còn gọi là phú con đường luật). Vắn luật của bài phủ loại này hơi phong khoáng, giàu nhạc điệu và dễ truvền tụng

Bài phú sông Bạch Dàng sở hữu thể chia làm ba đoạn :

1 ) Niềm vui thích ngao du, nhất là du ngoạn trên sông Bạch Đằng;

2) Thuật lại chiến công trên sông Bạch Đằng của thánh sư xưa;

3) Bài hát rút ra trong khoảng chiến công trên cái sông lịch sử này.

Trong một bài phú, thông thường tác fake hay hư cấu thêm một sô nhân vật để đối đáp, tranh biện có mình. Điểu đã góp phần làm bài phú sinh động quyến rũ hơn, nhờ sở hữu sự đan xen của những câu đối thoại, các câu bàn bạc: khi thì bổ sung, lúc thì chưng quan điểm ban đầu. Ở Bài phú sông Bạch Đằng với những nhân vật như: khách, ta, cố lão. thực chất, đó chính là sự phân thân của chính tác nhái, trong 1 thủ pháp nghệ thuật của bài phú.

Dưới đây sẽ Nhận định bài phú theo bí quyết chia đoạn kể ở trên

Trong văn học trung đại, ngẫu nhiên được bộc lộ tương đối nhiêu những nhà văn, nhà thơ sắm đến khi không trong những tâm cảnh khác nhau. Cao Bá Quát, tới sở hữu tự nhiên để mô tả tâm cảnh chua xót bất đác chí. Nguyễn Bỉnh Khiêm thì đối mang bỗng dưng để bày tô đạo lý thanh cao trước thói đời bon chen danh lợi… Ở Bai phú sông Bạch mẫu, Trương Hán Siêu đã tìm đến tự dưng trong 1 tâm trạng khác. Mò đầu bài phú, nhà thơ đưa người đọc vào 1 thế giới hùng vỉ, bao la của những Cửu Giang, Ngũ Hổ, Tam Ngô, Bách Việt là các nơi "khách” đã từng đi qua, khách tô ra là một con người mang tâm hỗn hào phóng, tự do:

Giương buồm giong gió chơi vơi,

Lướt bể chơi trăng mải miết.

Sớm gõ thuyền chữ Nguyên Tương,

Chiêu lần thăm chư Vũ Huyệt.

Khách cũng là một con người đi nhiều, biết rộng:

Đảm Vân Mộng chứa vài tròm trong dạ củng nhiều,

Mà tráng chí bón phương vân còn tha thiết.

Di nhiêu, biết nhiêu, nhưng trong thú tiêu dao, "khách" chỉ học có Tử Trường, tức là Tư Mã Thiên, nhà sử học nức danh Trung Quốc, từng chu du kháp đất Trung Hoa rộng to trước khi viết bộ Sù hỉ bất hủ bh/ii Chẳng "khách” noi tới Tử Trường đế tô bày tám Hồn đóng điệu của mình sở hữu người xưa Đi xa, đâu phải chi đê tiêu diêu, ngám hoa vẳng nguyệt, mà quan trong hơn là tìm đến nơi tiên tổ ta đã lập chiến công lớn to đã khiến vê vang cho lịch sử để chiêm ngưỡng, tụng ca và suy ngẫm.

phan-tich-bai-phu-song-bach-dang-cua-truong-han-sieu

Điều này, chứng tỏ phong độ vị khách thật cao đẹp, chí khí thật hào hùng Người đọc sở hữu thể nhận thấy vẻ đẹp áy trong chính lời nhắc đầy kiêu hãnh của khách. Khách nhắc đến phổ quát địa danh quen thuộc trong sách vở Tàu, chủng phương pháp xa nhau hàng ngàn dậm, khiến sao có thể đi được trong một sớm, 1 chiếu (Sớm gõ thuyên chữ Nguyên Tương – Chiều làn thâm chữ Vú Huyệt – Cửu Giang, Ngũ Hồ – Tam Ngô, Bàch Việt). ấy chỉ là cách phố diễn ý tưởng có thuộc tính ước lệ mà thối Diếu quan trong là nó đã đưa tới cho người đọc ấn tượng khá rõ về nhưng quang cảnh khi không rộng to, góp phẩn biểu lộ niềm ham thích tự do, khoáng đạt của nhân vật "khách". Cảm hứng về cuộc viễn du mở màn bài phú, thực ra chỉ là sự chuẩn bị 1 không khí thlch hợp trước khi đi vào toàn cầu hùng vĩ của sông Bạch Đàng lịch sử
Ấn tượng trước tiên mà Trương Hán Siêu đưa đến cho người đọc là sự bề thế rộng lớn và sức sống bền bỉ muôn đời của Bạch Đàng giang. Con sổng này thật hùng vĩ, bởi rộng "bát ngát" và dài "muôn dặm". Nhu vậy nó chẳng những là đại giang và còn là trường giang (Bát ngát sóng kinh muôn dậm), có bao lớp sóng lớn trập trùng. Điều đáng lưu ý là ngoài về thiêng liêng hùng vỉ, dòng Bạch Dằng còn cò nót thật dịu dàng, duyên dáng và thơ mộng: các con thuyến nối ‘đuôi nhau trôi rập rình trên sông; đã cuối thu rôi nên nước xanh, trời xanh; hai bên bờ lau lách xào xạc, quạnh vắng…

Trước cảnh sông nước hùng vĩ và thơ mộng ấy, tác fake cảm thấy vui buôn lộn lạo. Đây là mặt trận khốc liệt xưa kia, ta tháng to, nhưng kể sao cho hết các hi sinh mất mát vói bao "giáo gẫy, xương khồ". 'Trời nước", "lau lách" như gợi lại chuyện cũa, làm người hồm nay không giảm thiểu khỏi chạnh lòng nhớ tiếc, xót. Thương cho bao "anh hùng" đà mệnh chung. Ớ đoạn thơ này, ta thấy 1. Nỗi buổn cao đẹp qua các câu thư có âm hưởng trầm lầng, có điệu cảm khái:

Loading...

Thương nỗi anh hùng dẫu vầng tá

Tiếc thay dấu vết luống còn lưu.

Sau này, Nguyễn Trải lúc thảm cảnh Bạch Đàng cung có nòi giống buốn tương tự. Trong bài Cứa biển Bạch Đằng, nhà thơ cũng tháy dáng núi chừng như vẫn còn in dấu vết thất bại của kẻ thù, củng bảng khuâng nhìn chiếc nước trôi mà hoài Có:

Ngạc chặt kinh băm non lởm chồm;

Giáo chìm gươm gẫy bãi dăng dăng

Dòng trôi tìm bóng dạ bâng khuâng.

Tuy thế, cảm hứng chính của Bài phú sông Bạch Đàng là sự truyền tụng chiến công oanh liệt của dân tộc ta trên mẫu sông lịch sử này. từ những câu thơ trữ tình ở đoạn trên, tới đoạn 2, tác giả chuyển sang các câu thơ tự sự, mượn lời các cố lão – các người đã từng chứng kiến và tham dự trận Bạch Đằng nói lại. giả dụ phân đắu là lời của khách thì đoạn 2 là lời của những cố lão. Sự xuất hiện của họ làm cho việc biểu lộ chiến trường thêm sinh động, đồng thời việc chuyển ý được tự dưng. (Mặc dù, người nào củng biết dẫu lời của khách hay lời của các bô lão cũng chỉ là lời của tác giả). những cố lão tiếp chuyện khách sở hữu nhân cách đại diện cho quần chúng. # địa phương. Họ tôn kính khách và tự hào đề cập lại cuộc chiến năm xưa. mở đầu, các cố lão giới thiệu cho khách biết: "Đây là nơi chiến địa buổi Trùng Hưng nhị thánh bát Ô Mã và "củng là bãi đất xưa Ngô chúa phá Hoàng Thao”. Bằng 2 câu dài (mỗi câu 12 âm tiết), tác fake tạo được ko khí nghiêm chỉnh, đĩnh đạc làm cho nén cho việc bộc lộ chiến trận ở phân tiếp theo.

Trận thủy chiến được khác họa thật cô đọng, có các câu ngắn từ 4 tới 6 âm tiết:

Thuyên bè muôn dội,

Tình ki pháp phới.

Ti hổ ba quán,

Giáo gươm sáng chói.

Ánh nhật nguyệt chữ phải mờ Bầu trời đất chữ sáp dỏ.

Bằng cách thức ngắt nhịp nhanh, bằng lối đói ngẫu chặt chẽ, bằng 1 loạt hình ảnh nối lên sự mãnh liệt, kiêu hùng., đoạn thơ vừa trích đã thể hiện được sinh động không khí chiến trận quyết liệt trẽn sông Người đọc mang thể mường tượng tương đối rõ sự gần như của đội ngũ tham chiến, lẫn khí thế quyết chiến của 2 bén và sự ác liệt, dử dội của một cuộc đấu mặc cả 2 đéu ngang tài, ngang sức ("Trận đánh chết sống chưa phân – chiến luỹ bác Nam chồng đối"), sở hữu thể khiến cho dổi thay cả vủ trụ (khiến cho mặt tráng, mặt trời phải mờ đi, trời đất phải đổi).

Sau lúc biểu thị thế trận giao tranh ác liệt, những bô lảo nhận xét về đặc điểm của mỗi bên tham chiến. Kẻ địch thi với hàng ngũ hùng mạnh, lại thêm mưu chước xảo quyệt ("Tất Liệt thế cường – Lưu Cung chước dôi"). Và nhất là chúng có thừa sự tự cao của kẻ đà từng tung vó ngựa thốn tính phổ thông quốc gia từ Á sang Âu: "Những tưởng tung roi một lần" là với thể: "Quét sạch Nam Bang bốn cõi". Còn ta, trước tiên, đây là trận chiến đấu chính nghĩa, vỉ chính nghĩa nên thuận mang lẽ trời ("trời cũng chiều người"). Trong quan điểm của tổ tông ta xưa, trời bao giờ củng công minh, cương trực, đứng về phía chính nghĩa, trừng phạt kẻ bạo tàn. Thêm vào chậm triển khai, ta lại sở hữu điểu kiện trùng hợp hiểm yếu ("Trời đất cho nơi hiểm trở"), lại sở hữu người công ty lãnh đạo kiệt xuất có tuyến phố lối chiến thuật, chiến lược đúng đắn. Do dó, địch thua nhục nhã và ta đã thắng vang dội. Nước sông "tuy chảy hoài" từ Đó tới nay, trải bao tháng năm nhưng dòng "nhục đó vẫn không rửa nổi" ở đây, Trương Hán Siêu dẫn tích bên Tàu (Tào tháo dỡ thua trận ở Xích Bích; Bổ Kiên mang hàng trăm vạn quân bị thất bại ở Hợp Phì) để nói về những trận đánh trên Bạch Đàng giang trong khoảng thời Ngô Quyền tới è Hưng Đạo. các bô lão ko đề cập phổ thông đến phía quân ta, chi nhán mạnh lòng hàm ân sâu nặng: "Tái tạo công lao – ngàn đời ca ngợi" cũng đủ cho người đọc cảm nhận 1 phương pháp sâu sắc tầm vóc to to của chiến thắng Bạch Đằng trong sự nghiệp bảo kê giang sơn gẫm vóc của quán dân đời Trán. Điếu đáng lưu ý, khi nói vế quân địch, những cố lão nhấn mạnh vào sức mạnh vật chất của chúng, còn kể về phía ta, lại nhấn mạnh vào nguyên tố tình thần. Rõ ràng, lời những bô lão sở hữu ý nghĩa sâu sắc, chuẩn bị dẫn đến những lời bình ở phán tiếp theo:

Những người bát nghĩa tiêu vong,

Nghìn thu chi có anh hùng lưu danh.

Lời bình này trở nên chân lí của muôn thuở, sống mãi cộng Bạch ĐÀng giang hùng vỉ.
Ở đây củng như phán đầu, thời kì và ko gian được tác nhái diễn đạt đan xen mang nhau. Xưa và nay, ko gian và thời kì nghe đâu cũng được tái hiện khiến câu chuyện hạn chế được sự tẻ nhạt, đơn điệu; luôn sinh động hấp dẫn người đọc. hiện tại, người ta thường gọi bí quyết diễn đạt này là nghệ thuật đổng hiện.

Tiếp theo lời những bô lão, khách củng vui vẻ tiếp nối lời ca két thuc bài phú Lời của khách chính là phán tổng kết có chức năng bố sưng, đính chính những Tìm hiểu mà các cố lão đã thể hiện ở trên (về duyên do của chiến tháng). mang tâm cảnh hoan hỉ, khách vừa đé cao công lao lớn to của những vị anh hùng đời Trấn, vừa bày tò niêm tin vào sinh khí mảnh liệt và ngày mai tươi sáng của quốc gia, trong ngừng thi côngĐây, đặc trưng nhấn mạnh tới nguyên tố "đức cao" của dân tộc. Sự nhìn nhận của khách về chiến thắng mang chiều sâu học thuyết. Sức mạnh của non nước đất nước chẳng hề ở địa thế hiểm trở mà trước tiên ở con người ("Giặc tan muôn đời thanh bình – Bởi đâu đất hiểm, cốt mình đức cao").

Đây là một bài phú mang bố cục chặt chẽ, nhịp độ đổi thay linh động, hào phóng, lời văn cô đọng, dổi dào cảm xúc, khi thì xót thương nhớ nuối tiếc, lúc thì vui sướng tự hào. Tác già lại rất giôi phán thân thành các nhản vật khác nhau để vừa nhắc vừa phụ họa thêm làm cho bài phú giàu chất thơ, làm người đọc xúc động tự hào về non sông quốc gia hùng vĩ, về chiến công lừng lẫy và trục đường lối giữ nước tài hoa của quân dân ta thời trần mà cũng là của dân tộc ta 7 thế kỉ trước.

Spread the love
Loading...

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *