Home / VĂN MẪU THPT / Văn mẫu lớp 12 / Giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân

Giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân

Đề bài: Giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân

Nếu ai đã tìm hiểu về nạn đói khủng khiếp năm 1945 và 1954 của đất nước ta sẽ hiểu được tình trạng khốn khó tới mức nghìn cân treo sợi tóc của nhân dân. Ở đó, người sống dật dờ như những thây ma, còn những người chết nằm còng queo la liệt bên lề đường không người chôn cất. Biết bao nhiêu cây bút văn chương đã bày tỏ tấm lòng xót thương của mình trước vận hạn thảm khốc ấy. Và Kim Lân – một nhà văn luôn dành hết tình yêu thương cho người nông dân khốn khổ cũng đã dựng lại rất chân thực nạn đói khủng khiếp ấy trong truyện ngắn Vợ nhặt của mình. Cũng vẫn là thảm cảnh chết chóc, đói khát… và mùi ẩm mốc, lạnh lẽo…, vẫn là những cái xác còng queo chết vì đói vì rét. Nhưng hơn hết trong tác phẩm của ông còn ánh lên những niềm hi vọng, niềm tin vào ngày mai tươi sáng. Ông đã đặt lòng mình vào lòng những con người đang khổ sở, thiếu thốn ấy. Dù ông không thể cho họ cái ăn, cái mặc – cái mà người ta đang cần nhất lúc này, nhưng ông lại cho họ niềm tin, niềm khát khao vào tương lai sẽ đổi thay, sẽ tốt đẹp hơn. Bởi thế, ông dựng lên tình huống nhặt vợ đầy bi hài nhưng lại ẩn chứa nhiều ý nghĩa sâu xa. Từ những thảm cảnh thực tế và lòng đồng cảm xót thương, cùng với niềm tin mà nhà văn trao cho họ, tác phẩm đã thể hiện trọn vẹn giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo vô cùng sâu sắc.

Thông qua giá trị hiện thực, người đọc được chứng kiến cảnh nghèo đói xác xơ đến tội nghiệp của xóm ngụ cư nghèo. Cái nghèo hiển hiện ngay trong từng câu từng chữ của nhà văn : Cái đói đã tràn đến xóm này tự lúc nào. Những gia đình từ những vùng Nam Định, Thái Bình, đội chiếu lũ lượt bồng bế, dắt dí nhau lên xanh nh những bóng ma, và nằm ngổn ngang khắp lều chợ. Người chết như ngả rạ. Không buổi sáng nào người trong làng đi chợ, đi làm đồng không gặp ba bốn cái thây nằm còng queo bên lề đường. Không khí mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người. Đọc câu văn ta như rờn rợn người vì sự chết chóc và thảm hại của nơi đây. Đó cũng chính là tình cảnh chung của nhiều nơi khác đang cùng cảnh ngộ. Ranh giới giữa cái chết và sự sống chưa bao giờ mong manh đến thế. Đến nỗi người ta thản nhiên khi nhìn thấy người chết bên lề đường, coi đó là điều rất bình thường trong cái tao đoạn này. Và bất kỳ ai cũng có thể trở thành một trong những cái xác đó vào bất cứ lúc nào. Xóm chợ về chiều lại càng xơ xác hơn : Từng trận gió từ cánh đồng thổi vào, ngăn ngắt. Hai bên dãy phố úp sụp, tối om, khong nhà nào có ánh đèn, lửa. Dưới những gốc đa, gốc gạo xù xì, bóng những người đói dật dờ đi lại lặng lẽ như những bóng ma. Tiếng quạ trên mấy cây gạo ngoài bãi chợ cứ gào lên từng hồi thê thiết. Trong Hai đứa trẻ của Thạch Lam, cũng có cảnh chợ tàn, cũng có cảnh phố huyện nghèo xác xơ, nhưng ở nơi đó không thảm hại như bãi chợ, như xóm ngụ cư của Kim Lân. Ít nhất trong đêm khuya, phố huyện vẫn có những ánh đèn leo lắt của chị Tí, của bác phở Siêu… dù ánh đèn ấy rất mờ nhạt và bé nhỏ nhưng cũng đủ để xua đi màn đêm tăm tối.Trong từng câu văn của Kim Lân, đâu đâu ta cũng thấy sự đói nghèo, khổ sở đeo bám. Từ cảnh vật cho tới con người đều xám xịt một màu u tối.

Thấu hiểu nỗi đau cùng cực ấy, nhà văn đã tạm gác lại những cái thây người chết nằm còng queo bên lề đường để dựng lên cảnh nhặt vợ đầy bi hài và hóm hỉnh. Từ đó, ông thể hiện tấm lòng xót xa và đồng cảm với nhân vật và với nhân dân, khích lệ họ vươn lên hướng tới ngày mai tươi sáng. Đó cũng chính là giá trị nhân đạo vô cùng sâu sắc mà tác giả đã gieo vào trong tác phẩm. Dù người dân có thể chết bất cứ lúc nào, nhưng ông cũng không để nhân vật của mình đi vào ngõ cụt tối tăm như Chị Dậu trong đoạn trích cùng tên của Ngô Tất Tố, cũng không để họ vì nghèo vì đói mà đánh mất chính mình như Chí Phèo của Nam Cao. Ngược lại, giữa lúc cái chết cận kề, người ta vẫn khát khao sống, khát khao hạnh phúc, khát khao được yêu thương, được nâng đỡ nhau, cùng nhau bước qua giai đoạn cùng cực nhất của cuộc đời. Cuộc nhặt vợ của anh cu Tràng tưởng chừng như chỉ là tiếng cười giải khuây giữa trang văn đầy mùi ẩm mốc của xác người chết đói nhưng lại tia hi vọng sáng chói, là cái gì lạ lùng và tươi mát thổi vào cuộc sống đói khát, tăm tối của người dân nơi xóm ngụ cư nghèo. Tràng và thị đều là hai trong số rất nhiều nạn nhân của nạn đói khủng khiếp ấy. Và chính trong lúc không còn gì để bấu víu, họ lại va vào nhau, tình cờ nhặt được nhau giữa cơn đói khát bần cùng.

 

Hơn thế nữa, cuộc gặp gỡ ngẫu nhiên của họ còn mang lại niềm hạnh phúc cuối cùng cho một con người đã gần đất xa trời, đã trải qua biết bao nhiêu năm tháng đằng đẵng trong đời. Đó chính là mẹ Tràng – người mẹ với tấm lòng yêu thương con vô bờ bến. Khi biết con có vợ, bà không khỏi bất ngờ, trong lòng vừa mừng vừa tủi. Mừng vì thằng con của mình tuy ngờ nghệch nhưng vẫn lấy được vợ. Tủi vì trong cái tao đoạn này, bà chẳng thể lo cho con được dăm ba mâm cỗ mời xóm mời làng cho đàng hoàng tử tế. Và trong lòng người mẹ già nua ấy còn hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự nữa.

Loading...

Dù vậy, trong ngày đầu tiên có con dâu mới, ngôi nhà ẩm thấp, tàn tạ mọi khi của hai mẹ con bỗng dưng thay đổi hẳn lên. Hơi ấm trở lại, nhà cửa sạch sẽ, tinh tươm. Và ai cũng thấy mình cần có bổn phận phải chăm sóc, phải phấn đấu vì gia đình bé nhỏ này.

Giữa Tràng và thị không hề có sự hẹn hò hay yêu đương trước đó, nhưng hơn hết trong tình cảnh này, giữa họ lại đầy ắp tình yêu thương, sự đồng cảm và trân trọng nhau. Càng khó khăn, tình cảm lại càng thiêng liêng và đáng quý hơn bao giờ hết. Trong căn nhà ấy, tình cảm chân thành mà mọi người dành cho nhau đã giúp họ mạnh mẽ hơn, lạc quan hơn. Và dù mâm cơm đầu tiên của ngày đón dâu mới chỉ có nồi cháo với đĩa rau chuối thái rối nhưng mọi người vẫn ăn rất ngon lành. Họ vừa ăn vừa cảm thông cho nhau, vừa hướng nhau đến những điều tốt đẹp trong tương lai. Và người dẫn dắt tới những niềm hạnh phúc ấy không ai khác chính là mẹ Tràng. Bà động viên các con : Vợ chồng chúng mày liệu mà bảo nhau làm ăn. Rồi ra may mà ông giời cho khá… Biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời ? Có ra thì rồi con cái chúng mày về sau. Và sau mỗi lần động viên con, lại là mỗi lần bà ngậm ngùi, xót xa trong lòng vì bà hiểu rằng thực tế nạn đói đang diễn ra, biết có đưa nhau sống qua được cái tao đoạn hay không. Bà lão đăm đăm nhìn ra ngoài. Bóng tối trùm lấy hai con mắt. Ngoài xa dòng sông sáng trắng uốn khúc trong cánh đồng tối. Mùi đốt đống rấm ở những nhà có người chết theo gió thoảng vào khét lẹt. Bà lão thở nhẹ ra một hơi dài. Bà lão nghĩ đến ông lão, nghĩ đến đứa con gái út. Bà lão nghĩ đến cuộc đời cực khổ dài dằng dặc của mình. Vợ chồng chúng nó lấy nhau, cuộc đời chúng nó liệu có hơn bố mẹ trước kia không?… Dấu ba chấm bỏ lửng cho những tủi hờn không nói thành lời.

Cháo hết, bà lão bưng lên nồi cháo cám. Giữa ngày đói, bà lại động viên các con trong xóm có nhà còn không có cháo cám mà ăn. Bởi thế, cháo cám cũng trở thành một món ăn ngon và cấp thiết trong lúc này. Nghĩ như thế, họ sẽ không thấy khổ nữa, dù vị cám đắng xít, nghẹn bứ trong cổ. Và bà lão thi thoảng lại rơi những giọt nước mắt âm thầm, lặng lẽ nặng trĩu những lo âu, những buồn tủi. Biết làm sao được khi nạn đói vẫn đang hoành hành, khi tương lai chưa biết ra sao. Nhưng từ trong cuộc đời họ vẫn luôn ánh lên những niềm hi vọng tươi sáng, những ước mơ đổi đời. Tiếng trống thúc thuế vang lên dù làm cho bà cụ càng thêm lo lắng, như đánh thẳng vào lòng bà nhưng lại khiến cho đôi vợ chồng trẻ nghĩ đến tiếng trống trong công cuộc phá kho thóc của Nhật, thóc gạo được chia cho người nghèo và nhân dân thoát khỏi kiếp bần hàn này. Đắt giá nhất là chi tiết lá cờ đỏ bay phấp phới. Một màu đỏ tươi duy nhất xuất hiện từ đầu tác phẩm đến giờ, đó là dấu hiệu cho cuộc khởi nghĩa sau này nổ lên, cũng là sự khích lệ lớn lao mà nhà văn dành cho nhân dân.

Ông đã tái hiện sự thật một cách chân thực nhất, thảm hại nhất về nạn đói kinh hoàng năm đó và thể hiện tấm lòng xót thương của mình cho những kiếp đời lầm than. Đồng thời ông cũng gieo cho họ những ước mơ, những dự định đổi đời. Rồi đây, tương lai tươi sáng sẽ không chỉ là điều xa xôi nữa, mà là sự thật. Tất cả những chi tiết, những tình huống trong truyện đều hướng mọi người đến tương lai ấy. Cuộc nhặt vợ bi hài của anh cu Tràng không chỉ gây cười mà còn là niềm tin vào hạnh phúc giữa lúc khốn cùng nhất. Rằng tình người không bao giờ mất, rằng hạnh phúc vẫn luôn luôn có nếu người ta biết tự tạo cho mình hạnh phúc. Và một mặt khác, tác giả vừa ngầm tố cáo thế lực cầm quyền gian ác, tham lam đã đẩy nhân dân vào nạn đói thê lương này, vừa khẳng định với bọn chúng rằng dù thế nào đi chăng nữa, nhân dân cũng không bao giờ chịu khuất phục, nhất định họ sẽ đứng lên đấu tranh để giành lại quyền sống của mình.

>>> Xem thêm:

Giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân
Rate this post
Spread the love
Loading...

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *